Trang chủ : Tư liệu
Người thầy đầu tiên

      

Đó là thầy Nguyễn Cao Lộc. Chúng tôi gọi thầy là Cha, vì thầy là một linh mục. Hồi ấy Khu Ba là vùng quê nghèo và lạc hậu. Bọn trẻ chúng tôi lớn lên học hành phập phù chẳng thấy đâu là bờ là bến. Gia đình nào theo Phật thì cho con học trường Chùa, gia đình nào theo Chúa hoặc vào loại nghèo kiết xác như tôi thì học trường Chị (của mấy Xơ dòng Phú Cam). Nhưng giỏi lắm cũng chỉ đến mức tiểu học. Sau đó, phải là những gia đình giàu có mới cho con lên Huế tiếp tục học đệ thất, đệ lục… còn hầu hết bị kẹt lại, cầu bơ cầu bất, lấy vợ, sinh con, đi lính, và chết. Thế rồi, không biết từ đâu hiện xuống một vị, làm thay đổi cuộc đời chúng tôi, thay đổi diện mạo vùng quê chúng tôi, đó là Cha Nguyễn Cao Lộc.

Cha Nguyễn Cao Lộc - 10/2009

Việc đầu tiên Cha làm là xoá sổ cái đồn Tây chình ình ngăn đôi xóm Chợ với thôn  Vinh Hoà. Đó là một độn đất gần 2 hecta, um tùm cây cối, bốn bề ruộng lúa. Trong con mắt bọn trẻ chúng tôi, cái đồn Tây ấy gắn liền với hồi ức tuổi thơ kinh hoàng: lâu lâu bọn Tây và lính Bảo vệ xua quân càn quét xóm làng, súng nổ, đầu rơi, máu chảy, tra tấn, tù đày… nhiều bà mẹ goá chồng, nhiều em thơ thành côi cút. Sau năm 1954, cái đồn Tây bị bỏ hoang, nhưng chẳng ai dám bén mảng, bởi người ta kháo nhau trong đó có ma - đêm đêm tiếng la, tiếng hét, chắc là oan hồn của những người bị tra tấn. Thế rồi ngày kia Cha Lộc về, Cha cho san bằng để xây trên đó một dãy nhà năm gian làm trường học, Cha chỉ giữ lại cái lô cốt phía trước làm văn phòng hiệu trưởng. Tôi có may mắn vào gặp Cha một lần - vẫn còn nhớ như in gian lô cốt lạnh lẽo, Cha oai và nghiêm, còn tôi thì toát mồ hôi.

Cha đặt tên cho ngôi trường mới toanh của chúng tôi là trường Trung học Tuý Vân mà Cha là hiệu trưởng. Giáo sư của trường là những vị thầy trẻ trung, tài hoa, và uyên bác. Bọn chúng tôi hết lòng ngưỡng mộ và kính phục. Mãi mấy năm sau tôi mới biết, các thầy chỉ mới vào tuổi trưởng thành, thi rớt Tú tài toàn phần, gia đình hoàn cảnh, các thầy nghe theo tiếng gọi của Cha đem cái chữ cái nghĩa về giúp khai sáng làng quê chúng tôi. Đến cái phủ Quốc Oai khỉ ho cò gáy thuở xưa cũng còn có “một thầy một cô”, vậy mà hội đồng giáo sư trường tôi chẳng có nổi một bóng hồng - thế mới biết vùng quê tôi ngặt nghèo đến chừng nào.

Trong hội đồng giáo sư, tôi đặc biệt ấn tượng với ba vị thầy: thầy Đồng dạy văn, duyên dáng và sôi nỗi. Thầy Yên dạy toán, bay bướm và dễ hiểu. Còn Cha Lộc dạy Pháp văn, chao ơi, Cha nghiêm và dữ dễ sợ. Cha vào lớp luôn với khúc roi mây to bằng ngón chân cái. Giờ Cha gần như đứa nào cũng bị đập, chỉ có khác đập ít hay nhiều, đập nặng hay nhẹ. Nhờ thế mà môn Pháp văn đứa nào cũng khá. Tôi có cảm tưởng Cha điều khiển ngôi trường như điều khiển trại lính: luôn luôn đúng giờ, việc gì ra việc nấy, “quân lệnh như sơn”… Cha rất thương và quí những học sinh chăm học và học giỏi, nhưng lại rất nghiêm và thẳng tay với những ai lười nhác. Không khí học và thi đua học tập của trường cứ rần rật. Các bạn đầu lớp tranh nhau từng điểm bài tập. Thanh, Chuẩn, Tâm, Ty… luôn nổi tiếng là học sinh suất sắc của trường. Sau này nhiều bạn lên Huế tiếp tục đệ nhị cấp đều chẳng thua kém chi ai. Nhiều bạn ra đời thành công vang dội. Mỗi lần gặp nhau, ngồi ôn chuyện cũ, chúng tôi đều thừa nhận nếu không có Cha thì chắc chắn chúng tôi không có được như ngày hôm nay; nếu không có Cha thì làng quê chúng tôi cứ lẹt đẹt hoài trong hủ tục, u minh. Vâng, chính Cha Lộc đã thay đổi cuộc đời chúng tôi, thay đổi làng quê chúng tôi.

Cùng lúc với việc xây ngôi trường mới trên đống đổ nát của trại lính cũ, Cha cho đóng chiếc tàu chở khách qua lại phá Cầu Hai. Hồi ấy Khu Ba như một ốc đảo, chỉ liên lạc với thế giới bên ngoài bằng những chuyến đò. Phá Cầu Hai mênh mông bát ngát, rộng đến 9 cây số. Những lúc thuận gió thuận nước thì chẳng nói làm gì, những lúc trái gió trở trời phải chèo bắn xương ngót bốn năm giờ mới tới. Đặc biệt vào mùa hè, đôi khi đò ra giữa phá bỗng giông gió phủ trắng trời, trở tay không kịp, đò chìm. Năm nào cũng có vài ba vụ đò chìm - người chết, khăn tang, côi cút. Từ ngày có chiếc tàu chở khách của Cha, chuyện đi lại, qua về trở nên tiện lợi, an toàn, và nhanh chóng (chỉ khoảng một giờ). Sau Tuý Vân, nhiều bến đò khác cũng theo gương Cha đóng tàu: Vinh Giang, Vinh Mỹ, Vinh Hưng...

Từ chiếc đò chèo đến con tàu máy nổ, nghe tưởng đơn giản nhưng quảng đường phải đến cả ngàn năm, mà rõ ràng Cha Lộc là tác giả. Chiếc tàu đò là thành tựu chói lọi của làng quê chúng tôi, niềm tự hào của chúng tôi. Mỗi ngày hai chuyến, qua nắng qua mưa, qua sương qua gió, tàu nối liền đôi bờ, tàu cứu mạng bao người, tàu nuôi sống những cảnh đời, tàu giúp con người đến với nhau, tàu đưa con người đi xa hơn, tàu chắp cánh cho những ước mơ… Với những người con xa xứ, trong nỗi nhớ về quê hương tuổi thơ, chuyến đò Đá Bạc - Tuý Vân luôn ẩn hiện thẳm sâu cùng bao kỷ niệm buồn vui, cả ánh mắt nụ cười ai đó. Năm 2007, với sự xuất hiện của hai chiếc cầu hiện đại - cầu Trường Hà và cầu Tư Hiền, chiếc tàu xưa vắng khách, côi cút, cuối cùng đành chấp nhận qui luật đào thải, một mình nằm chơ vơ trên bến cũ.

Mỗi lần về thăm quê, thi thoảng tôi ra Tuý Vân, thơ thẩn bên con tàu xưa. Chỉ mới mấy năm thôi mà trông nó héo hắc, tội nghiệp. Hơn nửa thế kỷ tồn tại, nó từng đưa đón biết bao người. Không biết bây giờ họ ở đâu? Có còn nhớ bến cũ đò xưa? Có còn nhớ tấm lòng người đóng tàu? Mai sau, không biết còn ai biết đã một thời có chiếc tàu là nhịp cầu nối liền bên ni bên tê, chiếc tàu chở chuyên hết thế hệ này đến thế hệ khác qua các bến bờ khắp nơi trên thế giới?

Là một nhà giáo, nhưng Cha không đóng khung sứ mệnh giáo dục trong bốn bức tường lớp học mà còn mở rộng ra ngoài xã hội. Làng Mỹ Á quê tôi hình chữ S, đầu gối biển Đông, chân tựa Tuý Vân, lưng kề Mỹ Lợi, mặt hướng trùng dương bốn mùa lộng gió. Phía trước làng có con hói nhỏ - trong mắt tuổi thơ tôi, đó là con sông dài nhất, rộng nhất, sâu và trong xanh nhất. Dọc theo hói nhỏ là con đập ngăn mặn, cũng là con đường chúng sinh qua lại. Bốn đặc sản nổi tiếng của làng tôi là dừa, môn, khoai, và phong tình. Mỗi lần cánh đàn ông cào phân bứt bổi trở về, sau khi thuyền đầy qua Bến Đẩy, họ không còn chèo hay chống nữa, mà chỉ để lại một người cặp lái, còn tất cả lên đập, buột một đầu dây vào thuyền rồi cùng nhau thong dong vừa kéo vừa ngỏn ngoẻn chuyện trò. Không biết vì để tiết kiệm vải vóc hay vì cái chất phong tình trong máu mà các vị chẳng ai mặc quần. Thói quen ấy chẳng biết bắt đầu từ đâu, nhưng chắc là lâu đời lắm. Chỉ tội cho mấy bà mấy cô mặt mày đỏ gay, còn bọn con nít chúng tôi thì chỉ chỏ cười vang… Mấy lần Cha đón đường, mời họ vào Bến Dừa “thuyết” cho một trận. Tôi chỉ nhớ đại ý Cha nói: “Đến con chó cũng có cái đuôi để che, thì cớ sao các con tồng ngồng kỳ cục vậy. Các con không biết xấu hổ à?”… Thế là từ đó chấm dứt hẳn tệ tồng ngồng ở làng quê tôi. Chẳng biết có ai nuối tiếc nếp cũ không, riêng tôi mỗi lần có dịp thăm lại dòng sông tuổi thơ, cái sự tồng ngồng ấy trở thành hồi ức vừa vui vui, vừa hay hay, vừa ngọt ngào; và mỗi lần như thế tôi lại bùi ngùi nhớ về Cha.

Chưa hết, Cha còn cực lực phê phán cái tật đái đường. Cũng như bất cứ nơi đâu trên đất nước mình, làng quê tôi xem chuyện ỉa đái là điều uý kỵ, dơ dớp, người trọng lễ nghĩa không ai được nói. Để gọi tên, người ta phải nói trại ra, hoặc phải thi hoá lên: đi tiểu, đi ngoài, hái hoa, bắt bướm…Nhưng đó chỉ là những qui phạm về mặt ngôn từ, còn như trong thực hành thì thoải mái - “Nhất quận công nhì ỉa đồng” mà lại. Sau này có dịp đi lại nhiều nơi trên thế giới, tôi nghiệm ra, nếu khạc nhổ là thói xấu của người Tàu thì đái đường là nét đặc trưng của dân mình, nghĩa là chẳng nơi nào có được. Mỗi lần Cha thấy ai đái đường, nhất là với các học trò của Cha, là Cha không chịu buông. Cha đem chuyện ra nói dưới cờ, nói trong giờ học, tuy không nói tên ai nhưng người trong cuộc biết Cha nói ai. Cái giọng Quảng Trị của Cha to, rõ, mạnh, nhấn từng tiếng. Đặc biệt trong mỗi lời Cha nói bao giờ cũng chất chứa một tấm lòng, một sức nặng, một ý chí… không nghe không được, không làm không xong; hoặc bỏ Cha mà đi, hoặc phải nghe theo lời Cha dạy. Và thế là, từ nam phụ lão ấu cho đến bạch diện thư sinh như chúng tôi đều chừa tiệt nọc tật đái đường. Về mặt này, nhờ Cha mà làng quê chúng tôi đi trước thời đại (Việt Nam) đến hơn nửa thế kỷ.

Tôi có cảm giác như với Cha, dạy học không có nghĩa là dạy chữ mà chính là dạy đạo làm người. Cha rất coi trọng giờ đức dục mà Cha luôn là một giảng viên cực kỳ lôi cuốn. Không chỉ thế mà vào các giờ chào cờ đầu tuần, giờ học, và bất cứ lúc nào có thể Cha đều tranh thủ cung cấp cho chúng tôi những qui tắc cơ bản để làm người. Từ những việc nhỏ như cách gõ cửa, khép cửa, cách xì mũi, cách nhổ nước bọt, cách ăn, cách nhai… đến những việc lớn hơn như cách chào hỏi, cách bắt tay, cách góp ý với người trên, cách phê bình người dưới, cách đi, cách đứng, cách ngồi, cách nhìn… cả những lời mà người có giáo dục không thể không luôn treo sẵn trên môi như xin lỗi, xin cám ơn, xin vui lòng…Tôi không biết các bạn thế nào, nhưng với tôi, những lời Cha dạy như nước tưới lên mặt cát, nó hút ráo và lan toả rất sâu. Sau này ra đời, tôi có thể thua chúng kém bạn mặt này mặt nọ, nhưng riêng về cốt cách, cung cách, quan hệ ứng xử, tôi thấy mình không thua ai, lại có thể hoà mạng được với cả những nền văn minh hiện đại nhất. Chắc chắn đó là nguyện ước của Cha. Và tôi, tự xếp mình vào loại học trò xuất sắc của Cha về mặt này.

Cha là một thầy giáo, một linh mục, nhưng tôi có cảm tưởng như Cha là một vị tướng quân: mạnh mẽ, dữ dội, quyết liệt, miệng nói tay làm… Có lẽ trừ lúc hành lễ, ít khi Cha mặc đồ dòng. Hình như cuốn kinh thánh Cha phải đọc mỗi ngày chính là cuộc sống đang ngồn ngộn trải ra trước mặt. Cha, to lớn, oai vệ, cởi chiếc Moto Harley màu đen rong ruỗi từ làng này qua làng khác, giúp đỡ hết người này đến người khác, mở mang hết công trình nọ đến công trình kia…Trong mắt tôi hồi ấy, Cha như là trang hảo hán, hành hiệp giang hồ mà tôi hết lòng ngưỡng mộ và mơ ước.

Hể có dịp là Cha lôi chúng tôi ra khỏi bốn bức tường lớp học, ném vào các hoạt động xã hội, tham quan danh lam thắng cảnh. Năm 1957, Cha tổ chức cho chúng tôi hành quân lên đỉnh Bạch Mã. Hồi ấy Bạch Mã còn là khu rừng nguyên sinh, cây cao bóng cả, chim kêu vượn hú, với những ngôi biệt thự nhỏ nhắn xinh xinh, những con đường quanh co đầy hoa dại, mây vương vấn, núi chập chùng, đất trời dịu mát…Đó là lần đầu tiên tôi tiếp cận thiên nhiên, hoà mình vào thiên nhiên, học bài học yêu thương từ thiên nhiên; từ đó thiên nhiên trở thành một phần sức sống luân lưu trong huyết quản tôi, chan chứa tâm hồn tôi. Hơn 20 năm sau - năm 1980, tôi đưa đám học trò lớp tôi chủ nhiệm tham quan Bạch Mã. Rồi sau đó, hầu như năm nào tôi cũng cùng đám đệ tử lên Bạch Mã rèn luyện, tĩnh tâm, và hoà cái thân bé nhỏ vào đại ngã bao la. Nhưng chỉ mỗi mình tôi biết, rằng tất cả được khơi nguồn từ chuyến đăng sơn do Cha tổ chức năm 1957.

Có phải quá trình hình thành nhân cách của đứa trẻ luôn mang dấu ấn của bố và mẹ? Tôi mồ côi cha từ nhỏ, mẹ đi buôn bán xa, ở nhà thui thủi một mình, đến lớp bị bạn bè ăn hiếp. Trong học bạ tôi mấy Xơ trường Chị phê: “Tính tình nhu mì, chăm chỉ, đáng khen”. Chăm chỉ thì rõ rồi, còn nhu mì là sao tôi chẳng hiểu. Hỏi mấy anh lớn mới hay nhu mì nghĩa là nhỏ nhẹ, dễ thương. Tham gia đội kịch nói của trường, bao giờ tôi cũng được giao đóng vai con gái - từ Lưu Bình Dương Lễ, Suối Từ, đến vài vở kịch khác tôi không nhớ tên; khi thì tôi thủ vai công chúa, tiểu thư, khi thì đóng vai mệnh phụ. Ai cũng bảo tôi sao mà giống con gái quá…Thế rồi chỉ sau mấy năm học tập với Cha, tôi sững sốt nhận ra mình đổi thay gần như 180 độ. Cũng cứng cõi, mạnh mẽ, dứt khoát, rõ ràng, ăn to nói lớn…nghĩa là rất giống Cha. Sau này trở thành giáo sư môn Việt văn kiêm chủ nhiệm lớp, rồi hiệu trưởng một trường cấp III, tôi càng thấy mình giống Cha hơn; từ tư tưởng giáo dục, phương pháp và qui cách giáo dục, môi trường giáo dục, tác phong sư phạm…Tôi không phải là một tín đồ Thiên Chúa Giáo và chưa hề có ý thức xem Cha là thần tượng, nhưng không hiểu sao tôi giống Cha như đúc; giống cả những thành quả tốt lành mình mang lại cho học trò, và cả tai hoạ từ những thành quả ấy mà ra.

Cha là một linh mục, hơn ai hết Cha hiểu rõ giá trị của niềm tin tâm linh đối với con người; nó giúp điều hoà cuộc sống, nâng cao chất lượng cuộc sống trong mối quan hệ nhân ái với mọi người. Và Cha dễ dàng nhận ra, các làng quê quanh Tuý Vân làng nào cũng có nhà thờ họ đạo, chỉ Mỹ Á quê tôi là không. Thế là Cha vận động chính quyền hiến đất để xây dựng ở làng tôi một nhà thờ, đích thân Cha làm cha xứ.

Khi xây nhà thờ, hẳn Cha không thể ngờ động cơ tốt lành của Cha trở thành mối hoạ cho Cha sau này. Năm 1963, chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, trai tráng trong làng, được cầm đầu bởi một người học trò cũ của Cha, nửa đêm xông vào nhà thờ bắt trói Cha, bịt mắt, đánh đập dã man. Chưa hết, sáng ra chúng còn dắt Cha diễu qua hết làng nọ đến xã kia. Thuở xưa, Juda bán Chúa để giặc đóng đinh thầy hắn trên cây thập tự, tôi biết Chúa đã nghĩ gì. Nay Cha bị hành hạ bởi chính những đệ tử thân thương của mình, không biết Cha có “đau” không, có ngả lòng không? Có bao dung tha thứ cho chúng như Chúa từng bao dung tha thứ cho kẻ phản Chúa không? Lúc này tôi đang học trên Huế, nghe tin dữ, tôi vội về ngay. Buổi tối tôi gặp nhóm cầm đầu, gay gắt lên án việc làm của chúng… Tên thủ lĩnh mặt mày đỏ bừng, quá bất ngờ đến nỗi không kịp nghĩ phải hành động thế nào. Sáng hôm sau chúng đến nhà, vây chém tôi một trận. Cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu nổi tôi đã xoay xở bằng cách nào mà thoát khỏi vòng vây bốn tên bốn con dao hung hãn chém xả vào người mình. Buổi chiều, giữa đám bạn bè và anh em ruột thịt họ hàng, tôi đưa tay lên trời thề: “Tôi sẽ đi học võ để thanh toán từng thằng một trả mối thù này”.

Nói thì dễ, nhưng thời ấy tìm cho ra ông thầy võ thật khó. Năm 1967, tôi bị gọi quân dịch. Ở trại nhập ngũ số I, tôi quen một người, anh ta tên Lộc, cao to, đai đen Karate - trong võ đường huynh đệ gọi anh là “Lộc sồi”. Anh là người trọng đạo lý, nhưng bởi tôi tha thiết quá nên anh mới đồng ý dạy. Suốt một tháng được tạm hoãn quân dịch, tối tối tôi qua nhà anh ở đường Cao Bá Quát để thụ giáo. Hết hạn, chúng tôi quay lại quân trường. Tốt nghiệp sĩ quan, anh chuyển qua không quân. Không lâu sau, anh chết trong một tai nạn trực thăng. Còn tôi, được hưởng chế độ sĩ quan biệt phái, trở về dạy ở trường cũ Trần Quốc Tuấn, Quảng Ngãi. Năm 1969, tôi được thuyên chuyển về Huế. Theo hướng dẫn của anh trước đây, tôi đến tìm thầy anh - Võ sư Choji Suzuki để bái sư nhập môn.

Gặp chân sư, đúng môi trường, tôi ngày đêm chú tâm khổ luyện. Nung nấu bởi ý chí trả thù, tôi lăn xả vào đấu luyện và đấu tự do. Hồi ấy ở võ đường, chúng tôi đấu đá cực kỳ hung hãn, máu me. Mặt và ngực tôi thường xuyên bị thương, nhiều khi cả tháng phải mang kính đen lên lớp. Tôi bắt đầu suy ngẫm về cái giá của sự trả thù, lòng nhân ái, đức cao thượng… cùng với tư tưởng võ đạo được thầy Suzuki trực tiếp truyền thụ, rằng “Học võ cho có sức mạnh để không bao giờ dùng đến võ”, rằng “Cách trả thù tốt nhất là bao dung tha thứ cho kẻ thù”… Dần dần tôi cũng ngộ ra - như bị trói được mở, như mù loà được sáng, lòng hân hoan bay bổng, trái tim rộng mở tràn ngập tin yêu. Mùa hè 1972, tôi tìm gặp một trong bốn tên đầu sỏ ngày trước, nói rõ ngọn nguồn, mong muốn xoá bỏ hận thù, bắt tay bè bạn. Cho đến nay, hai trong số bốn tên đầu sỏ còn sống trở thành bạn thân thiết của tôi.

Thế đấy, vì Cha tôi đến với võ, ngộ ra cái đạo của võ tôi trở thành võ sư cao đẳng của làng Karate-Do Việt Nam. Hồi còn trên bục giảng, tôi là giáo sư Việt văn nổi tiếng, nhất là sau đợt tham gia hội giảng toàn quốc năm 1980 tại Đà Nẵng, nay về già, cuộc đời chỉ còn biết mỗi “ông Dũng - võ sư Karate”. Số phận có những bước đi chẳng ai có thể ngờ… Duy điều này thì tôi xác quyết, rằng đệnh mệnh đã gắn kết tôi với Cha không chỉ như trò với thầy, mà còn như con với cha; rằng Cha là người đã ảnh hưởng quyết định đến tính cách, nhân cách, phong cách,và số phận cuộc đời tôi.

Đã hơn nửa thế kỷ qua đi, lứa học trò của Cha thuở ấy nay thành ông bà cụ, số chết trong ly loạn chiến tranh, số lưu lạc bốn phương trời, còn Cha thì đang vào tuổi 100. Nay Cha sống an tịnh trong khu Toà Tổng Giám mục địa phận Huế. Mỗi dịp 20/11, Tết, Lễ tôi thường ghé thăm Cha. Tôi hỏi Cha: “Lâu nay có ai đến thăm Cha không?”. Cha nói: “Không, chỉ có vợ chồng Dũng là hay đến thăm Cha thôi”. Thế đấy, người thầy giáo cũng như ông lái đò, đưa khách sang sông, mấy ai còn ngoái lại. Không hẳn là sự bạc bẽo nhưng đó là cái nghiệp của nghề. Cho nên làm thầy giáo mà cứ đòi hỏi phải sòng phẳng thế này thế nọ thì chắc chắn đó không phải là người thầy chân chính. Với Cha Lộc, điều quan trọng không phải bây giờ còn ai nhớ đến Cha không, mà điều quan trọng là đã một thời Cha góp phần chuyển hoá thế hệ chúng tôi, thay đổi diện mạo làng quê chúng tôi. Mà đó mới là lẵng hoa tri ân quí nhất dành cho Cha, người thầy đầu tiên của chúng tôi, và người thầy đầu tiên của riêng tôi.



Nguyễn Văn Dũng            

 Các tin liên quan

 
 1   2   3   4   5  > >>

  Trước    In trang