Trang chủ : Tư liệu
Tám năm Karate-Do - Một hành trình Bạch Mã

      
Võ sinh: Đào Hoàng Hiệp
Phân đường Nghĩa Dũng Karate-Do Hà Nội

Anh đến bên em tình yêu Không thủ
Như thể cơ duyên kiếp trước không rời
Anh mê đắm ngay ngày đầu mới gặp
Để bây giờ vẫn yêu lắm em ơi!

Người ta vẫn thường nói ở đời gặp gỡ được nhau là một cái duyên. Có lẽ điều đó không chỉ để diễn đạt việc mọi người được gặp gỡ nhau, được tiếp xúc với nhau là do duyên phận mà còn thể hiện cả việc mỗi chúng ta khi gặp gỡ sự vật, hiện tượng quanh mình hay mỗi chúng ta vào những hoàn cảnh tự nhiên đến cũng là do duyên định. Đối với tôi, tôi được gặp gỡ và tập luyện môn võ Karate-Do như một cơ duyên định trước.

Ngay từ nhỏ, trong tâm trí của mình tôi đã luôn mong muốn được học võ, nhưng thời gian trôi đi mà không hiểu vì sao mong muốn đó chưa thực hiện được. Để rồi đến năm 2009, lúc đó tôi đã 27 tuổi mới bắt đầu tập võ, môn võ Karate-Do. Cái duyên với võ bắt đầu từ lần gặp nhiều may mắn với anh Trung Anh, Huấn luyện viên Karatedo đầu tiên của tôi. Đúng là một trong những điều may mắn nhất của đời người đó là tìm được cho mình một người thầy tốt. Tôi không chỉ may mắn mà thực sự quá may mắn khi có không phải một người thầy tốt mà có nhiều người thầy tốt bảo ban cho mình. Anh Trung Anh một người anh, người thầy, người không những dậy võ mà còn bảo ban về lễ đạo, lối sống cho tôi. Anh cũng là cầu nối để tôi được gặp võ sư Nguyễn Phương Nam trưởng Phân đường Nghĩa Dũng Karate-Do Hà Nội. Võ sư Nguyễn Phương Nam và anh Trung Anh luôn là nguồn cảm hứng, người truyền năng lượng cho tôi trong các buổi tập, buổi sinh hoạt, đó cũng là cảm hứng và năng lượng để giúp tôi làm việc chăm chỉ, có lối sống mạnh mẽ, tích cực.

Điều đặc biệt nhất về người Thầy của tôi đó là một người Thầy trước đây tôi luôn phải tưởng tượng vì 6 năm đầu học võ tôi chưa được gặp. Nhưng Thầy luôn hiển hiện trong tôi qua từng chỉ dẫn, những nắn nót các động tác kỹ thuật của anh Phương Nam và anh Trung Anh, qua những câu truyện đầy ý nghĩa về võ đạo, đạo làm người sau mỗi buổi tập ở võ đường được các anh kể lại. Người Thầy đó, thầy giáo, nhà văn, võ sư Nguyễn Văn Dũng, sư trưởng Nghĩa Dũng Karate-Do, người thầy vĩ đại của chúng tôi.

Năm 2015, anh Trung Anh đưa tôi một số bạn vào Huế tham dự giải Nghĩa Dũng Karate-Do mở rộng lần II, đây là lần đầu tiên tôi được gặp Thầy. Mặc dù thời gian được gặp và nói chuyện với Thầy không được nhiều nhưng tôi thực sự nhận ra rằng, thầy của mình còn tỉnh cảm và ấm áp hơn rất nhiều so với những gì mà tôi tưởng tượng trước đây. Một người thầy đã có biết bao thế hệ học trò thành danh trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống và trong xã hội. Có những giáo sư, tiến sỹ, doanh nhân, có những người làm quản lý cấp cao trong bộ máy nhà nước... những danh hiệu đó, chức tước đó cũng chỉ là bình thường mà quan trọng hơn những học trò thành danh đó (ít nhất là những người tôi được biết, các Huấn luyện viên của tôi, các sư huynh của tôi) trong võ đường cũng như trong cuộc sống nhiều những cám dỗ, thị phi nhưng các anh luôn giữ trong mình tinh thần Karateka, với lối sống trượng nghĩa, nhân ái được truyền tải từ người Thầy của mình. Được gặp Thầy, với những thông điệp đơn giản của thầy, tôi nhận thấy ngay từ bây giờ mình phải luôn sống vui với những điều bình thường nhất, hàng ngày nhất; Làm việc tốt cho gia đình và xã hội, đối xử tốt với nhau ngay cả những điều đơn giản nhất như chỉ là câu cửa miệng: xin chào, xin vui lòng, xin lỗi, xin cảm ơn...

Sau giải đấu đó, hình ảnh người Thầy tuyệt vời ở Huế đã nằm trong tâm trí, trong trái tim tôi trở về Hà Nội. Thầy Nguyễn Văn Dũng và các Huấn luyện viên luôn là niềm tự hào, là nguồn động lực để tôi tích cực tập luyện hơn. Thời gian qua đi, việc luyện tập cho tôi một sức khỏe tốt, tinh thần thoải mái khiến tôi luôn hứng khởi trong công việc, cởi mở với mọi người. Phải chăng khi con người càng rèn luyện đau đớn về thể xác thì càng mạnh mẽ về tinh thần? Với tôi, trong các buổi tập, mỗi lần ngả mình, xoạc xuống thật là đau đớn nhưng thật lạ kỳ khi tất cả những vướng mắc, khó khăn; những trăn trở, bức xúc của đời thường bỗng nhiên tan biến nhường chỗ cho những niềm vui, hạnh phúc lại hiển hiện trong tâm trí tôi. Khoảnh khắc đó, tinh thần phải cố gắng lắm mới có thể vượt qua những đớn đau trên từng thớ thịt. Có những khi tưởng chừng như không thể chịu đựng được thì lại như không còn tồn tại điều gì vướng bận trong tâm hồn. Suy nghĩ về giây phút mà bản thân mình trải qua những cung bậc cảm xúc từ khổ cực đến hạnh phúc tôi hiểu được rằng mình đã dần thay đổi tính cách. Luôn quyết liệt, khắt khe với chính bản thân mình, luôn cháy bỏng những khát khao vươn tới điều tốt đẹp cho cuộc sống, luôn muốn cống hiến hết sức lực, tình yêu cho những người xung quanh và quan trọng hơn tôi nhận ra mình biết sẻ chia, biết cảm thông, biết rộng lòng tha thứ trước lỗi lầm của người khác điều mà trước đây tôi chưa bao giờ làm được.
 
Vẫn biết cuộc đời lắm đổi thay, phải đối mặt với bao khó khăn nhưng niềm tin mãnh liệt về một sự đam mê sẽ không bao giờ thay đổi, Karate-Do niềm hạnh phúc của tôi! Sự bền bỉ trong tập luyện là nền tảng cho tôi biết kiên nhẫn trong cuộc sống. Không bao giờ biết mỏi mệt để đợi chờ niềm vui sẽ đến cũng như luôn nhẹ nhõm khi mong muốn tuột khỏi tầm tay. Biết thảnh thơi trong những xô đẩy, cám dỗ của dòng đời. Biết rèn thân, răn mình cho lối sống cao đẹp của con nhà võ. Điều đó có thể ai cũng biết nhưng có lẽ không nhiều người có được. Có lẽ chỉ khi qua khổ luyện, chỉ khi những giọt mồ hôi lăn dài trên má, ướt đẫm bờ vai, những bầm dập chân tay, cả những giọt máu đào vô tình chảy xuống người ta mới nhận ra.

Đến một ngày tôi hiểu được rằng, học võ đâu chỉ phải rèn luyện về tinh thần và thể chất mà cái đích quan trọng nhất người học võ cần hướng tới đó là cái đạo trong võ. Rèn luyện thân thể chỉ là con đường dẫn đến ngộ đạo. Khi công phu càng cao thì ngộ đạo càng nhanh và sâu sắc. Những điều đó sẽ là cơ sở để mình đủ sức và sẵn sàng cống hiến tất cả bản thân cho những người thân, cho lý tưởng sống cao đẹp và cho xã hội.

Giờ đây khi tôi càng tập luyện thì càng thấy mình yêu Karate-Do hơn thế. Karate-Do với tôi không chỉ là một môn võ đơn thuần nữa mà đó như là người bạn thân luôn nhắc nhở mình sống có tình có nghĩa; như một người yêu, người vợ để mình sống có thủy có chung; như hình ảnh một người thầy để mình sống có lễ có hiếu và như một con người bình thường bên mình để mình luôn sống có một tấm lòng, biết yêu thương, biết sẻ chia và nhân ái với cuộc đời.

Rồi thời gian tập luyện của tôi thấm thoát cũng đã sang năm thứ 8. Năm 2016 Thầy và các huấn luyện viên đồng ý cho môn sinh Phân đường Hà Nội thi lên huyền đai, tổ chức thi ở Hà Nội. Tôi cũng may mắn được lựa chọn để thi dịp đó. Lần này,Thầy Nguyễn Văn Dũng chủ trì kỳ thi. Đây là lần thứ 2 tôi được gặp Thầy. Tôi cũng như những huynh đệ khác đều rất háo hức được gặp Thầy nhưng cũng nhiều lo lắng, hồi hộp, vì ai cũng mong muốn phần thi của mình được hoàn chỉnh nhất trước Thầy. Mọi nội dung, chương trình cho đợt thi được huấn luyện viên và các sư huynh chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Chỉ cần nhìn cách đón tiếp Thầy của ban huấn luyện thì chúng tôi cũng đã cảm nhận rất rõ về sự hiếu đạo của người học trò đối với Thầy mình như thế nào.
 
Buổi sáng hôm ấy, kỳ thi diễn ra tại trường đại học FPT - khu công nghệ cao Hòa Lạc. Có lẽ đây là kỳ thi đáng nhớ nhất trong cuộc đời của tôi vì ở đó tâm trí của tôi trải qua rất nhiều trạng thái cảm xúc: mong muốn, chờ đợi, hồi hộp, đấu tranh và vui mừng hạnh phúc. Được gặp lại Thầy, vẫn vóc dáng nhanh nhẹn ấy, vẫn giọng nói truyền cảm ấm áp ấy, người Thầy vĩ đại mà quá đỗi thân thương trong lòng tôi. Khi điều hành kỳ thi thì Thầy mạnh mẽ, quyết liệt, công minh và nghiêm khắc. Nhưng khi chỉ bảo, dặn dò các học trò thì ân cần, cẩn thận, tỉ mỉ và đầy tình cảm; một cảm giác vô cùng gần gũi. Với tôi, trước sự ân cần và tình cảm của Thầy, của các Huấn luyện viên tôi thấy mình có chút áp lực nho nhỏ. Mặc dù đã chuẩn bị, tập luyện khá kỹ cho kỳ thi, nhưng thực sự tôi mong muốn mình có thể thi tốt nhất, để không phụ lòng của Thầy và ban huấn luyện. Kỳ thi bao gồm các nội dung: Quyền, Công phá và Đấu, chúng tôi đã vượt qua các nội dung đó, thật hãnh diện và tự hào. Có lẽ ấn tượng và nhiều cảm xúc nhất là nội dung công phá, nhìn những viên gạch cứng nhắc, trơ trơ như thế. Một sự thật là trong mỗi thí sinh đều có một sự sợ hãi dù là nho nhỏ. Những ai vượt qua nội dung này chắc chắn phải có một tinh thần dũng cảm, tranh đấu đến cùng để vượt qua bản thân và chiến thắng những viên gạch bằng ý chí. Tôi nhận ra, khi đã vượt qua những điều thực tế đó, cảm xúc từ sợ hãi đến chiến thắng thực sự sẽ in sâu vào tiềm thức của mình một cách tự nhiên và là cơ sở, hun đúc bản lĩnh để ta có thể vượt qua những nỗi sợ hãi trong cuộc sống. Thật quá ý nghĩa!

Vượt qua kỳ thi, được Thầy dặn dò về ý nghĩa, về tinh thần, về trách nhiệm của một huyền đai Karate-Do và được chính tay Thầy thắt cho mình chiếc huyền đai, giây phút ấy sao mà thiêng liêng, xúc động và hạnh phúc đến thế! Cảm ơn anh Huấn luyện viên Nguyễn Trung Anh, võ sư Nguyễn Phương Nam; con cảm ơn Thầy võ sư Nguyễn Văn Dũng, cảm ơn Karate-Do đã mang đến cho tôi biết bao điều tốt đẹp nơi cuộc sống này.

Kỳ thi lên Huyền đai tại Hà Nội - 2016
    
Ngay sau kỳ thi huyền đai đó, tôi và các huynh đệ được cùng Thầy đi chuyến từ thiện tại tỉnh Sơn La. Đây là chuyến đi tặng quà ban giám hiệu nhà trường và những học sinh tiêu biểu của trường tiểu học xã Tạ Bú, huyện Mường La. Nơi đây chủ yếu là học sinh dân tộc Thái, còn rất nhiều khó khăn. Chuyến đi hai ngày là cơ hội cho chúng tôi được gần Thầy  hơn và cũng để được tiếp thu nhiều bài học về cuộc sống hơn nữa từ Thầy. Ngay từ khi xuất phát, mọi người đã thể hiện tinh thần kỷ luật, tập trung rất đúng giờ và đầy đủ. Chuyến đi này, Thầy ngồi cùng xe với các học trò. Ngồi trên xe đi chúng tôi được nghe Thầy nói rất nhiều về văn, võ và đạo trong võ. Thầy dậy chúng tôi hát các bài hát truyền thống thật vui vẻ và gần gũi biết bao. Trong lúc đó Thầy cũng đã kịp cải lời một bài hát “Này Sơn La thân yêu ơi...”để tặng riêng cho những người bạn Sơn La. Thầy nói đùa đợt này chúng ta đến Sơn La và sẽ hát để họ phải rơi nước mắt. Câu nói tưởng như đùa, nhưng tôi cảm nhận thực sự trong tâm ý của Thầy luôn chan chứa tình cảm để dành cho bạn bè, cho những người xung quanh. Khi đến trường tiểu học Tạ Bú để trao quà, qua những lời phát biểu đầy xúc động của Thầy tôi mới thấy được tình yêu của Thầy dành cho thế hệ trẻ nhiều đến thế nào. Cả đời Thầy là thầy giáo dậy văn, dậy võ đã chắp cánh ước mơ cho biết bao thế hệ. Đã có biết bao lứa học trò thành danh đến vậy mà giờ đây, Thầy ở cái tuổi gần 80 vẫn không quản ngại khó khăn, xa cách để đến với các học trò vùng cao, tiếp tục un đúc cho các em, giúp đỡ các em có hoàn cảnh khó khăn. Tôi làm sao có thể quên được, Thầy đã phát biểu trong nỗi xúc động đến nghẹn ngào “Thầy luôn mong các em, những bàn chân nhỏ bé đến với lớp học phải trèo đèo lội suối nhưng các em hãy mang trong tim mình một tình yêu, một ngọn lửa và một ước mơ để mai sau ước mơ đó sẽ vượt qua cả những dẫy núi cao vợi này đến với chân trời tốt đẹp hơn, giúp đỡ được nhiều hơn...”. Ôi! Những câu nói đó, vào hoàn cảnh đó sao mà khiến người ta khó cầm được nước mắt đến thế và tất cả mọi người đều tự thấy mình trở nên nhỏ bé trước tình nhân ái bao la của Thầy. Người Thầy vĩ đại của chúng tôi!

Chuyến đi hai ngày có quá nhiều ý nghĩa và nhiều bài học, nhiều cảm xúc không thể kể hết, nhưng tôi xin viết thêm một đoạn ngắn nữa trong hành trình từ Sơn La về Hà Nội. Chuyến đi Thầy ngồi xe cùng các học trò, khi về anh Đại Dương có mời Thầy sang xe riêng của anh cho đỡ mệt (anh đi xe riêng để tiện công tác tổ chức và dự phòng tình huống rủi ro có thể xẩy ra), ở cái tuổi của Thầy thì đi đường dài hơn 300km chắc chắn sẽ mệt rồi, nhưng Thầy đã từ chối và tiếp tục đi chung với mọi người. Thầy nói lúc đi cùng mọi người thì về Thầy cũng sẽ cùng mọi người. Đó là bài học về tinh thần đoàn kết, tính tập thể, trước sau như một. Thầy có viện dẫn một số chuyện nhỏ về tinh thần đoàn kết của các học trò, và thầy ví biểu tượng của người học võ Karate-Do như hoa anh đào, loài hoa đẹp, thanh tao nhưng nở cùng nở mà tàn cùng tàn. Những câu truyện, cách ứng xử rất đời thường của Thầy nhưng trong đó ẩn chứa những triết lý sống sâu sắc, cao đẹp. Từ hôm đó, các võ sinh của phân đường Hà Nội có một khẩu hiệu “Hoa anh đào” để diễn đạt hay khi cần một sự thống nhất của tập thể.

Tất cả thành viên trên xe ai cũng đều thấy vui vẻ và thoải mái phần vì vừa vượt qua kỳ thi huyền đai mà mọi người bỏ nhiều công phu tập luyện mới vượt qua, phần vì chuyến đi từ thiện mang nhiều ý nghĩa và quan trọng hơn tất cả là đều cuốn theo sức hút vô hình của Thầy, điều đó làm cho trên xe lúc nào cũng rộn rã tiếng nói, tiếng cười. Khi gần về đến Hà Nội Thầy có nói, năm tới Thầy tổ chức chuyến hành quân Bạch Mã cho tân huyền đai, có em nào muốn tham gia không? Tất cả đồng loạt giơ tay xin Thầy cho tham gia. Thầy rất vui khi thấy sự hào hứng của các học trò. Nhưng Thầy hiều rằng các học trò của mình chưa thể hình dung hành trình Bạch Mã khó khăn đến thế nào? Đúng là như thế, lúc đó tôi cũng là người dơ tay và ngày hôm nay khi ngồi viết bài này khi mà tôi đã chinh phục thành công đỉnh Bạch Mã thì nghĩ lại những lời dặn dò của Thầy trên xe một năm trước mới thấy thấm thía làm sao và mới hiểu được Thầy yêu thương học trò của mình đến nhường nào! Trước sự hào hứng của học trò, Thầy nói rất kỹ các em phải tập luyện thể lực trước khi leo núi. Đặc biệt, các em phải tuân thủ tuyệt đối tinh thần kỷ luật của chuyến hành quân từ khi chuẩn bị đến khi kết thúc. Thầy rất thương các em, nhưng nếu có một em nào không tuân thủ kỷ luật, làm ảnh hưởng mọi người thì buộc lòng thầy phải loại khỏi chuyến hành quân, đó là quy định bao nhiêu năm nay. “Nếu Thầy phải làm điều đó thì Thầy đau lắm, nên thầy rất mong các em phải tuyệt đối tuân thủ” đây là câu nói của thầy trên xe mà tôi nhớ và nó cứ hiển hiện trong tôi suốt chuyến hành quân Bạch Mã vừa qua. Thầy nhấn mạnh điều đó vì Thầy quá yêu học trò, trong thâm tâm thực sự Thầy không bao giờ muốn loại bất kỳ học trò nào ra khỏi chuyến đi.

Kỳ thi huyền đai thành công, chuyến đi từ thiện Sơn La đầy ý nghĩa rồi cũng kết thúc. Chúng tôi tạm biệt Thầy mà cứ mãi ngậm ngùi, ôm Thầy thật chặt mà như chẳng muốn rời. Trong lòng tôi, khoảnh khắc chiều muộn lúc xuống xe đó tự dưng thấy chống chếnh đến thế, trong lòng tôi biết rằng mình sẽ nhớ Thầy nhiều lắm lắm!

Rồi thời gian cũng qua đi, ngày hẹn Thầy lên đỉnh Bạch Mã cũng sắp đến. Không quên lời Thầy dặn trên xe năm trước, tôi đã chuẩn bị và tập thể lực rất kỹ. Đến trước ngày chinh phục Bạch Mã một tháng, tôi đã đều đặn chạy 5km mỗi sáng và chạy cầu thang từ tầng 1 lên tầng 25 của tòa nhà mình ở. Nhưng được biết đỉnh Bạch Mã khoảng 20km, cao 1450m tôi vẫn chưa thực sự tự tin vì chuyến đi còn phải mang theo ba lô và tôi cũng không muốn mình phải lê lết trên đường đi để rồi không còn sức mà cảm nhận những gì đẹp đẽ xung quanh mình. Các thành viên đoàn Hà Nội bắt đầu vào công tác chuẩn bị tư trang cho chuyến đi. Khi nhận được danh mục vật dụng cần thiết chuẩn bị cho cá nhân và cho cả đoàn từ Huấn luyện viên trong Huế gửi ra, tôi và một số bạn đều bất ngờ. Bất ngờ vì trước đây mình đã nghĩ chuyến Bạch Mã này chỉ cần có sức khỏe thôi là đủ. Thậm trí tôi còn ngây ngô đến mức nghĩ trên Bạch Mã sẽ có nhà nghỉ, nghĩ mình sẽ có chuyến đi như đi du lịch, chỉ khác là cần có thể lực để leo núi thôi. Nhưng thực tế không hề đơn giản như thế. Nhìn vào những vật dụng cần thiết: Dây, võng, đồ ăn, bát đũa…và cả thuốc chống vắt, chống rắn nữa; nghe đã muốn chùn bước. Nhưng không, khi đã biết sơ bộ hành trình, biết là sẽ khó khăn hơn mình nghĩ rất nhiều nên đa phần các thành viên không chủ quan, chuẩn bị đồ đạc và lên kế hoạch khá kỹ lưỡng.

Và ngày hẹn đã đến, đoàn chúng tôi có mặt tại Huế lúc gần 22h ngày 29/6/2017. Đêm hôm đó chúng tôi có vài giờ để ngủ, nhưng tôi như một cậu bé háo hức niềm vui của ngày mai mà bồi hồi cả đêm không chợp mắt. Đúng 3h sáng hôm sau, 13 thành viên đoàn Hà Nội có mặt ở Tổ đường để nhận lệnh hành quân. Lần thứ 3 gặp Thầy trong ánh điện mờ mờ trước cửa Tổ đường, vẫn vóc dáng ấy, tác phong nhanh nhẹn ấy, giọng nói trầm ấm ấy, Thầy bắt tay từng thành viên sao mà gần gũi thân thương!

Thầy phát lệnh, tất cả lên xe di chuyển đến núi Bạch Mã. Đến chân núi, toàn bộ đoàn hơn 100 thành viên đến từ nhiều tỉnh khác nhau, được Thầy tập trung, xếp hàng ngay ngắn. Thầy giới thiệu ngắn gọn về các thành phần leo núi, về khách mời lần này và một lần nữa trước khi xuất phát Thầy hướng dẫn, dặn dò học trò tuân thủ những nguyên tắc của đoàn, rất tỉ mỉ, trình tự di chuyển thế nào, tốc độ ra sao và kể cả việc giữ gìn vệ sinh, nhặt rác trên đường đi…Bắt đầu xuất phát, Thầy khoác ba lô đi đầu tiên dẫn đoàn, đoàn Hà Nội tiếp ngay theo sau Thầy (lại một may mắn để chúng tôi được gần với Thầy hơn), rồi đến các đoàn khác, tất cả xếp hàng một để hành quân.
Lên đường

Thực sự ngay từ bước chân đầu tiên, trong tôi đã hừng hực khí thế, một cảm giác hào hùng chưa từng có. Những chặng đường ban đầu, tôi vừa đi vừa ngắm quang cảnh hùng vĩ của núi rừng, hít thở thật thoải mái bởi không khí quá trong lành vào buổi sớm mai đón ánh bình minh. Tôi được hòa mình với thiên nhiên cây cỏ, hành quân mà lòng thấy thảnh thơi, thoải mái vô cùng. Dừng chân ở cây số đầu tiên, Thầy cho đoàn nghỉ ngắn để chụp ảnh. Đối với nhiều người, chắc chắn đây sẽ là những tấm hình lưu giữ kỷ niệm không thể nào quyên cho sau này.
Chặng đường 2km tiếp theo tôi đã thấy đoàn người tách nhóm, một số bạn thể lực tốt hơn đã tiến gần với Thầy. Tôi một thanh niên với thể lực tạm tạm cũng bắt đầu thấy chiếc ba lô của mình bắt đầu nặng hơn và cây gậy trên tay đã bắt đầu phải sử dụng trợ lực. Nhưng Thầy tôi, gần 80 tuổi vẫn dẫn đầu đoàn. Dõi theo chân Thầy tôi thấy những bước đi của thầy vững chắc, chậm rãi nhưng đều đặn. Lúc này, Thầy không chỉ khiến cho tôi mà cho tất cả mọi người thực sự khâm phục, có biết bao thanh niên ở cái tuổi mười mấy đôi mươi, sức khỏe đang độ dồi dào nhất mà còn tụt lại phía xa sau lưng Thầy. Lúc nghỉ chân, giọng thầy vẫn sang sảng giữa núi rừng Bạch Mã bao la, hình ảnh đó sao mà mạnh mẽ kiên cường đến thế. Cứ vừa đi tôi vừa nghĩ và nhìn theo bước chân của Thầy, điều đó như tiếp thêm năng lượng, động lực cho tôi bước đi một cách nhẹ nhàng. 

Những cây số tiếp theo và tiếp theo nữa, các tốp càng tách xa nhau nhiều hơn. Lúc này mặt trời đã lên cao, leo một đoạn đường dài đó ai cũng mệt nhoài, cộng thêm cái nắng chói chang đã làm nhuệ khí của đa phần mọi người sụt giảm. Có lẽ bây giờ không ai còn dư sức lực, thảnh thơi để thưởng thức cảnh đẹp núi rừng hùng vĩ thiêng liêng như ban đầu nữa. Với tôi đây là một sự nuối tiếc, điều mà tôi lo lắng từ ở nhà đã diễn ra, đến Km số 8 tôi chưa phải quá mệt nhưng đúng là không còn thảnh thơi để thưởng ngoạn cảnh đẹp thiên nhiên nữa. Thầy tôi cũng bắt đầu cho các đợt nghỉ dài hơn. Ngồi nghỉ gần Thầy tôi cảm nhận được Thầy cũng mệt, nhưng cái mệt do tuổi tác không thể giữ chân Thầy đứng lại. Tinh thần đó, ý chí đó mà các đệ tử của Thầy chỉ cần có được vài phần thôi, tôi tin rằng người đó sẽ có cuộc sống tốt đẹp ở đời này. Đang ngồi nghỉ, với những suy nghĩ miên man thì tốp tiếp theo lên tới báo với tôi Ninh bị chuột rút (Ninh là bạn thân của tôi), ngay lập tức tôi quay lại để xem bạn mình ra sao. Đi khoảng hơn 100m thì thấy bạn mình đang lê lết bước lên. Tôi đã mang giúp bạn mình một ít đồ cho nhẹ bớt và tôi quyết định sẽ đi cùng bạn mình tách khỏi đoàn tốp đầu của Thầy.

Càng về trưa, trời nắng càng gắt, chân càng mỏi, ba lô càng nặng, bạn tôi chân bị chuột rút cố đi thì lại chuột rút tiếp. Thực sự là rất khó khăn với chúng tôi! Lúc này thủ lĩnh tinh thần là Thầy đã đi trước khá xa rồi. Tôi tự bảo với bản thân mình phải cố gắng hơn nữa, phải cùng với bạn mình chinh phục thử thách này. Một số bạn đã vượt qua chúng tôi, nhưng sau lưng tôi cũng còn khá nhiều người. Bạn tôi do chân đau, do mệt và lại bị xuất huyết tiêu hóa nên nghỉ liên tục. Tôi nhận thấy cứ thế này không ổn, mình sẽ không lên đỉnh đúng giờ và kịp mọi người. Tôi lấy lại tinh thần, nói chuyện với bạn nhiều hơn, động viên bạn nhiều hơn. Tôi nhớ mình có nói với bạn rằng trên đường đi nếu ta đứng lại là thụt lùi nên chúng ta có thể đi chậm chứ không thể nghỉ quá lâu không đi. Có lẽ những lời nói đó cũng làm bạn tôi mạnh mẽ hơn để bước tiếp. Nhưng đường lên đỉnh thì còn một nửa nữa, càng cố gắng đi lại càng thấy nặng trĩu và đường dài đến thế. Điều đó tiếp tục đánh phá tinh thần chúng tôi. Nhưng tôi nghĩ mình còn sức hơn bạn thì càng phải mạnh mẽ hơn nữa. Tôi tiếp tục động viên bạn và quyết định mỗi lần nghỉ lấy sức chỉ được nghỉ 3 phút. Thường xuyên thúc giục, kêu gọi cũng khiến tinh thần bạn tôi phấn chấn hơn để bước tiếp. Giữa cái nắng như đổ lửa của buổi trưa hè, sức lực tưởng như kiệt quệ, ngón chân bắt đầu đau nhức do bị phồng rộp. Hoàn cảnh đó tinh thần có mạnh mẽ thì cũng dễ nhụt chí. Nhưng không hiểu sao khi đó, để đi lên đã khó vậy mà có những đoạn tôi còn đi quay lại một vài trục mét để nghỉ cùng bạn mình, mở đồ ra pha nước đường muối hai thằng chia nhau từng ngụm. Giây phút đó tôi cảm nhận được mình và bạn mình sẽ kiên cường hơn. Chúng tôi là những người bạn thân 20 năm nay, đã có quá nhiều thử thách để khẳng định tình nghĩa và sự gắn kết. Nhưng khoảnh khắc này thật ý nghĩa nó như tô điểm thêm cho đậm nét đẹp trong tình bạn của chúng tôi! Đây cũng là lúc tôi và có lẽ cả bạn tôi nữa không ai nói ra nhưng đều nghĩ đến hình ảnh hoa anh đào như lời Thầy nói trên đường đi Sơn La năm trước. Như một luồng sức mạnh tiếp thêm cho chúng tôi, chúng tôi vẫn tiếp tục bước tiếp không nhanh nhưng bền bỉ hơn. Với nguyên tắc không nghỉ quá 3 phút trên đoạn đường còn lại, chúng tôi cũng dần vượt được vài tốp đi trước. Cái đích để theo được Thầy thì quá xa vời trong suy nghĩ của tôi. Nhưng hai thằng cư miệt mài bước đi, trong lòng cảm thấy chan chứa tình cảm, tình thân nên sự mệt mỏi cũng bớt dần. Và rồi khi còn khoảng 3 km nữa sẽ lên tới Hải Vọng Đài chúng tôi đã theo kịp được Thầy cùng tốp đi đầu tiên. Đích Hải Vọng Đài trên đỉnh Bạch Mã hùng vĩ cuối cùng chúng tôi đã chinh phục thành công.
Bình minh trên đỉnh Bạch Mã
Một chặng đường dài hơn 7 tiếng đồng hồ nhưng có biết bao nhiêu cảm xúc trong tôi không thể viết hết bằng lời, cảm giác thời gian khi đó qua đi quá chậm và mình giường như được sống cuộc sống dài hơn. Cảm ơn Thầy đã cho chúng con những cơ hội thực sự được trải nghiệm đầy ý nghĩa!

Khi tất cả mọi người lần lượt lên đến Hải Vọng Đài cũng là gần 14h chiều. Một cơn mưa rào chợt đến, làm tươi mát cả núi rừng Bạch Mã. Nằm trên đỉnh núi, nghe cơn mưa mà lòng tôi thấy an nhiên, nhẹ nhõm vô cùng và rồi tôi từ từ thiếp vào giấc ngủ cùng với suy nghĩ về thiên nhiên Bạch Mã, về chặng  đường lên núi của mình.

Tối hôm đó, trên Hải Vọng Đài đúng theo chương trình định trước, Thầy cho tất cả học trò ngồi sinh hoạt quây quần bên nhau. Hơn 100 người cùng hát, cùng chơi các trò chơi vui vẻ, ấm cúng và gần gũi lắm. Buổi ấy, Thầy đã ngâm một bài thơ tặng cho đoàn Hà Nội, Thầy ngâm bài “Đôi mắt người Sơn Tây”. Với giọng ngâm trầm ấm, nhẹ nhàng và đầy tình cảm, tôi chăm chú nghe như uống từng câu, từng chữ. Lúc đó trong lòng tôi thấy ấm áp và hạnh phúc vô cùng vì cảm nhận mình được yêu thương, quý mến nhiều đến thế. Hai câu cuối của bài thơ “Sẽ hết sắc mùa chinh chiến cũ. Còn có bao giờ em nhớ ta?” được thầy ngâm lại hai lần, sao mà da diết thế? Phải chăng nó da diết không phải chỉ vì ý thơ diễn đạt tình yêu của chàng trai với cô gái mà vì Thầy như đang nhập vai, ở đó tình yêu lúc này là của Thầy dành cho các thế hệ học trò. Tình yêu của Thầy lớn lắm, da diết lắm nhưng cũng trăn trở lắm vì “Còn có bao giờ em nhớ ta?”. Ngay lúc đó, trong lòng tôi thực sự chỉ muốn nói thật to rằng: Thưa Thầy! chúng con cả đời này sẽ mãi nhớ đến Thầy!
 
Không có lửa mà cũng ấm tình

Theo chỉ đạo của Thầy, buổi sinh hoạt vui vẻ và lãng mạn cũng đến lúc phải dừng lại để mọi người đi ngủ chuẩn bị cho hành trình ngày hôm sau. Đêm hôm đó, tôi và bạn mình xung phong trực ca 1h - 2h sáng nên giấc ngủ có gián đoạn, nhưng bù lại chúng tôi được thức cùng nhau, cùng cảm nhận được cái lạnh giá trên đỉnh núi Bạch Mã vào giữa đêm mùa hè. Ngày hôm sau, 4h30’ sáng, tất cả chúng tôi đã dậy và mang võ phục để tranh thủ chụp hình lúc bình minh và chuẩn bị cho lễ phong đai các tân huyền đai. Với khung cảnh ấy, rạng đông trên đỉnh núi huyền ảo khiến ai cũng phấn khích. Mọi người lúc này chỉ tập trung vào việc chụp ảnh, ai cũng muốn tìm kiếm cho mình những bức ảnh đẹp nhất và tôi cũng vậy.

Hết thời gian chụp ảnh, chúng tôi được tập hợp để thực hiện lễ phong đai. Rất nhanh, mọi người xếp hàng chỉnh lối thẳng tăm tắp. Khoảng 80 tân huyền đai được phong đai lần này, gương mặt ai cũng rạng ngời, háo hức và hồi hộp nữa, tâm trạng này tôi đã trải qua nên rất hiểu. Trước khi trao đai cho từng người, Thầy vẫn dặn dò rất kỹ về ý nghĩa, tinh thần, trách nhiệm mà một huyền đai phải có và mang theo mình đến hết cuộc đời. Không khí thật trang nghiêm và đối với mỗi tân huyền đai thì nó thật thiêng liêng. Rồi Thầy tự tay thắt đai cho từng người một, những tấm hình sẽ lưu giữ lại khoảnh khắc đầy ý nghĩa này cho mỗi người. Hình ảnh này, đã kéo tôi trở lại một năm trước, tôi cũng được thầy thắt huyền đai cho mình mà cứ ngỡ như ngày hôm qua. Duy nhất ở Việt Nam chỉ có Nghĩa Dũng Karate mới làm lễ phong đai trên đỉnh Bạch Mã non thiêng này. Để có được chiếc đai đen, mỗi môn sinh phải rèn luyện liên tục ít nhất 3 năm, bỏ ra bao công sức, mồ hôi. Phải chịu nhiều đau đớn về thân xác, phải luôn cố gắng tranh đấu về tinh thần. Hôm nay, được Thầy mình trực tiếp trao và thắt đai, thật xúc động, tự hào và hạnh phúc biết bao! 

Lễ phong Huyền đai trên đỉnh Bạch Mã
Khi kết thúc lễ phong đai, cả đoàn chỉ có 20 phút để gọn gàng đồ đạc, tư trang để hành quân xuống thác Đỗ Quyên. Khi tiếng còi xuất phát của Thầy cất lên, mọi người bước đi thì cũng là lúc Hải Vọng Đài được trả lại nguyên trạng như trước khi chúng tôi đặt chân lên đó, thậm chí còn sạch sẽ hơn, không còn một mảnh rác tại đó. Thế đấy, chỉnh chu là thế nhưng điều đó thể hiện tình yêu thiên nhiên, tôn trọng thiên nhiên mà thầy đã truyền sang cho chúng tôi. Chúng tôi xuống thác, đoàn người bước đi mà trong lòng thấy vui vui, nhẹ nhõm.

Đường đi xuống thác đỗ Quyên là đường mòn nhỏ trong rừng, có những đoạn men theo bờ suối, bám vào vách đá treo leo hiểm trở. Đi trên con đường này lại là một trải nghiệm hoàn toàn khác với lúc leo lên núi. Nó không khiến chúng tôi quá mệt nhưng lại nguy hiểm hơn và di chuyển chậm hơn. Hầu như đi theo hàng một, nhiều đoạn phải có hỗ trợ bám dây, leo thang. Đúng như lời Thầy nói lúc trước khi đi, chúng ta lên núi là trở về với thiên nhiên, cây cỏ, suối nguồn. Sao mà cảnh tượng hoang sơ và đẹp đến thế. Có những đoạn ngồi nghỉ phải chờ nhau di chuyển, chúng tôi lại chụp cho nhau những tấm hình lưu lại những khoảnh khắc ý nghĩa, không quên này.
Ảnh: leo ngũ hồ
 
Cheo leo Ngũ Hồ

Sau 8 tiếng di chuyển, chúng tôi đã đến chân thác Đỗ Quyên, nơi hạ trại của toàn đoàn. Đoàn Hà Nội hầu như là những thành viên chưa có kỹ năng đi rừng nên đến đây chúng tôi thực sự thấy lúng túng trong việc dựng trại. Nhưng rất may, trưởng nhóm của chúng tôi được thầy sắp xếp là anh Trần Văn Lợi, một người đã nhiều lần cùng Thầy lên Bạch Mã. Anh nhanh nhẹn và rất thông thạo, đã chỉ dẫn, giúp đỡ chúng tôi dựng trại, cũng như rất nhiều công việc trong suốt quá trình chinh phục Bạch Mã. Đây là lần đầu tiên tôi ngủ trong rừng, nằm trên võng, trước cơn mưa rào xối xả một cảm giác khó tả mà trước đây tôi chưa bao giờ có.

Tôi tỉnh dậy từ rất sớm và đi ra phía thác, tôi đã thấy Thầy đang nằm trên võng, trầm tư ngắm thác Đỗ Quyên từ lâu trong cái ánh sáng mờ mờ của buổi tinh mơ. Ánh mắt ấy, tôi hiểu được rằng Thầy mình yêu ngọn núi này đến thế nào! Tôi nhớ lại câu nói của Thầy khi Thầy ra mắt cuốn Đi tìm ngọn núi thiêng: “Trong mỗi con người có một ngọn núi thiêng”. Có thể tôi chưa hiểu hết được ý nghĩa của câu nói đó, nhưng bằng trực giác của mình tôi cảm thấy núi Bạch Mã như là ngọn núi biểu tượng chân thật nhất trong con người Thầy. 

Một chương trình quan trọng của buổi sáng hôm đó là cả đoàn xuống thác chụp ảnh. Thực tế để tổ chức, sắp xếp cho hơn 100 người chụp ảnh cùng lúc ở giữa con thác thực sự mất rất nhiều công sức và nguy hiểm vô cùng. Thầy đã cho thả dây để một vài nhóm có thể xuống chân thác. Người đầu tiên đu dây trên vách đá treo leo, hiểm trở chính là Thầy, một người đã gần 80 tuổi. Thực sự tôi không tin vào mắt mình nữa, điều đó là phi thường. Phải chăng để làm được những điều phi thường, không những  cần có sức khỏe bền bỉ mà hơn hết ở đó phải có một trái tim lớn thực sự biết yêu và biết cháy hết mình. Không xuống tận nơi để được nhìn thấy, sờ thấy và hòa mình vào đó thì không bao giờ cảm nhận được hết vẻ hoành tráng, hùng vĩ và đẹp đến mê hồn của thiên nhiên bao la. Đứng trước thác nước, dưới hiệu lệnh của Thầy, chúng tôi đồng diễn những động tác Karate với tiếng hét ki-ai vang dội núi rừng. Không còn gì tuyệt vời hơn thế, những bức ảnh chụp trên thác Đỗ Quyên với bộ võ phục trắng tinh khiết sẽ là những bức ảnh để đời của chúng tôi.

Hũng vĩ thác Đỗ Quyên

 Thời gian ở thác Đỗ Quyên như qua đi thật nhanh, đã đến giờ chúng tôi phải trở về. Về đến võ đường Thầy tập hợp học trò và Thầy tổng kết chuyến đi. Những câu nói rất ngắn gọn nhưng mang theo biết bao tình cảm mà Thầy gửi gắm cho chúng tôi. Hình như Thầy đã khóc, giọt nước mắt đó chưa hẳn ai cũng nhìn thấy nhưng tôi thì thấy rất rõ và giọt nước mắt đó đã nói lên tất cả tình yêu bao la, vô bờ của Thầy dành cho chúng tôi. Tiếng hát: “Này đệ huynh thân yêu ơi!... Xa cách ta không nê, luôn nhớ nhau trong đời! Từ nay cách xa…” được cất lên và vang vọng trong sâu thẳm trái tim mỗi người để rồi chia tay trong ngậm ngùi, thương nhớ!

Kết thúc hành trình Bạch Mã với bao ý nghĩa và kỷ niệm đẹp đẽ trong lòng mỗi người. Để lại trong chúng tôi biết bao xúc cảm, niềm vui, niềm hạnh phúc và để diễn đạt điều đó thì có lẽ chữ sẽ là quá tầm thường và nghĩa sẽ trở lên nhỏ bé. Và giờ đây, tôi chỉ muốn nói: Thưa Thầy! con biết ơn Thầy nhiều lắm, những gì cần dạy bảo bằng lời Thầy đã nói và viết cho chúng con. Nhưng không dừng lại ở đó, Thầy đã đưa chúng con đến với người thầy vĩ đại nhất, người thầy thiên nhiên. Ở đó, con hiểu được rằng Thầy đã nâng tầm cho chúng con, chúng con được bước vào con đường mới, con đường tự nhận thức.



            

 Luận văn thu hoạch

 
 1   2   3   4   5  > >>

  Trước    In trang