Trang chủ : Tư liệu
CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI KARATEDO VÀ HÀNH TRÌNH BẠCH MÃ SƠN

      
NGUYỄN ĐĂNG KHOA
Bạch đai Karatedo - Phân đường Nghĩa Dũng Karatedo Hà Nội

Tôi, một người con sinh ra và lớn lên ở thủ đô Hà Nội. Năm nay cũng đã ngoài 40, tuổi Quý Sửu, năm 1973, cầm tinh con trâu. Người ta cứ nói: Trai Đinh, Nhâm, Quý, Giáp thì tài. Riêng tôi, tôi tự nhận mình chẳng có tài cán gì, bù lại tôi được cái đức tính kiên nhẫn, cần cù như một con trâu cày vậy.

Tuổi thơ tôi trôi qua cũng không được êm đềm như bao đứa trẻ khác. Mẹ mất sớm từ khi tôi mới 9 tuổi, cái tuổi chỉ biết ăn, chơi, đùa nghịch.. Một mình Cha tôi một nách nuôi 6 chị em ăn học. Trong 6 đứa thì tôi là đứa thứ 3 và là con trai duy nhất của Cha tôi. Thời đó, đất nước vẫn trong thời kỳ kinh tế bao cấp, mọi thứ nhu yếu phẩm đều rất thiếu thốn. Ấy vậy mà Cha tôi vẫn không để cho sáu chị em chúng tôi phải chịu đói bữa nào, quả là một sự nỗ lực ghê gớm của một người đàn ông trong cảnh gà trống nuôi con.

Cha tôi, một giáo sư của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, ông là thế hệ đầu tiên đặt nền móng cho trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, một ngôi trường mà sau này thế hệ chúng tôi được học tập và trưởng thành, luôn tự hào về truyền thống của một ngôi trường kỹ thuật đầu ngành của cả nước. Mặc dù tôi là một đứa con trai duy nhất trong số sáu chị em, nhưng tôi không hề được Cha ưu ái, nuông chiều. Trái lại, Cha tôi lại giáo dục tôi theo một cách rất nghiêm khắc. Từ khi mẹ tôi mất đi, tôi cũng phải làm tất cả những công việc trong nhà từ những việc đơn giản như quét dọn nhà cửa, giặt giũ quần áo, nấu cơm, xếp hàng mua dầu, gạo, trông các em còn nhỏ v.v.. Mọi giờ giấc sinh hoạt, học hành hằng ngày đều phải theo sự sắp đặt nghiêm ngặt của Cha tôi. Tôi còn nhớ những trận đòn bằng chiếc roi mây vụt thâm tím cả mông sau mỗi lần mải chơi theo lũ bạn về muộn. Tôi từ khi sinh ra vốn không phải là một đứa trẻ có tố chất khỏe mạnh. Hồi còn đi học phổ thông, lúc nào cũng chỉ là đứa còi cọc, ốm yếu nhất lớp, luôn bị những đứa to xác hơn bắt nạt. Tôi còn nhớ hồi học lớp năm, bị một trận thấp khớp cấp tính suýt chút nữa thì chạy vào tim, lúc đó các khớp xương chân, tay sưng tấy, đau nhức khiến tôi không thể bước đi được nữa. Cũng may là tôi được đưa đến bệnh viện kịp thời chứ nếu không thì dòng họ nhà tôi mất một thằng nối dõi tông đường! Sau cái lần đó tôi phải xin nghỉ học mấy tháng để chữa trị. Chính vì thế mà sau này tôi rất ham tập thể thao, tôi đã quyết tâm tập luyện các môn thể thao để nâng cao sức khỏe và cải thiện thể trạng của mình. Đến khi vào Đại học, lúc đó tôi cũng bắt đầu ham thích Võ thuật, nhưng tôi không dám cho Cha biết mà giấu ông đi học võ. Được mấy tháng thì Cha tôi phát hiện ra và ông cấm không cho tôi đi học võ nữa. Ông nói với tôi: Bố chỉ có mỗi mình con là con trai duy nhất và là người thừa kế dòng họ này. Giờ con đi học võ, mà học võ thì bắt buộc phải có lúc tập luyện để giao đấu. Vậy chẳng may lúc giao đấu với bạn tập lỡ có chuyện không may xảy ra với con thì dòng họ nhà ta có phải là mất luôn người thừa kế hay không?! Với lại võ là cái gì đó liên quan đến bạo lực, là đấm, đá. Nếu con ham mê nó thì suốt ngày con phải nghĩ đến nó, nghĩ đến những chuyện đấm đá đó. Vì vậy bố không cho phép con đi học võ nữa! Con có thể chọn cho mình bất kỳ môn nào khác để rèn luyện sức khỏe cũng đều tốt cả. Lúc đó tôi chỉ còn cách im lặng và nghe theo lời Cha, và cũng từ đó cũng chẳng hiểu sao trong đầu tôi cũng có suy nghĩ giống Cha mình rằng võ là bạo lực là đấm đá và tôi không còn nghĩ đến võ nữa.

Thời gian thấm thoắt trôi qua. Tôi, từ một chàng sinh viên trường Đại học Bách khoa Hà Nội ngày nào giờ đã thành một người đàn ông trung niên, đã làm chủ một doanh nghiệp nhỏ với bao bộn bề lo toan, chèo lái cho con thuyền nhỏ của mình qua những giai đoạn khó khăn trong thời buổi thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay.

Rồi đến một ngày đầu Xuân Đinh Dậu, 2017.Nhân lúc rảnh rỗi trong thời gian nghỉ Tết nguyên đán, tình cờ tôi có xem được một phóng sự của đài truyền hình VTV3 với tựa đề: Con đường Samurai tại Việt Nam và một phóng sự về thầy Nguyễn Văn Dũng: Đạo võ – Đạo Người. Trong hai phóng sự đó có nói về môn võ Karatedo và tinh thần Võ sỹ đạo Nhật Bản. Và tôi lập tức đã bị cuốn hút bởi nội dung của hai phóng sự đó. Sở dĩ như vậy vì đã từ lâu, trong tôi luôn ngưỡng mộ đất nước và con người Nhật Bản, một quốc gia nghèo nàn về nguồn tài nguyên khoáng sản, lại nằm ở một vị trí địa lý đặc biệt, hằng năm phải hứng chịu gần 1.000 trận động đất lớn nhỏ. Từ một đất nước hoang tàn, đổ nát sau thế chiến thứ hai đã vươn mình để trở thành một nền kinh tế đứng thứ hai thế giới. Và chính trong thảm họa kép Fukushima năm 2011, một lần nữa tính cách Nhật Bản lại thể hiện rõ nét hơn bao giờ hết: Bình thản trước mọi thử thách, không kêu ca, oán than trước những mất mát đau thương, tính kỷ luật, trật tự xã hội vẫn chặt chẽ như chưa từng có thảm họa xảy ra v.v…

Và Karatedo, một môn võ của người Nhật Bản đã mang trong nó tất cả những tính cách đó – tính cách Samurai. Đó chính là lý do thôi thúc tôi đến với Karatedo. Khi biết được ý định này của tôi, một số bạn bè đều khuyên can tôi rằng tuổi này mà mới tìm đến võ thuật, nhất là với Karatedo, một môn võ đầy tính cương mãnh là không còn phù hợp với thể trạng nữa, nên chơi một số môn thể thao khác như tennis, golf v.v một số khác thì lại bảo tôi là “Hâm”. Nhưng kệ, tôi đã quyết! Và cũng rất may mắn cho tôi là có anh Xuân Anh, nhị đẳng huyền đai, một môn đồ của Nghĩa Dũng Karatedo, anh vừa là một người anh thân thiết và là người thày đầu tiên của tôi luôn dẫn dắt và động viên tôi trong những buổi đầu chập chững đến với Karatedo.

Những ngày đầu tiên khoác trên mình bộ võ phục trắng, chiếc đai trắng tinh đến với võ đường Nghĩa Dũng Karatedo Hà Nội, trong tôi cũng không khỏi cảm giác bỡ ngỡ như một cậu học trò mới nhập môn từ những buổi đầu tiên đến lớp, nhìn quanh thì thấy đa phần là các bạn trẻ tuổi, có nhiều bạn đã mang trên mình chiếc đai đen cao quý, có những bạn nhỏ tuổi hơn cả con trai tôi nhiều cũng hăng say luyện tập. Tôi vẫn nhớ cái hôm đầu tiên đến võ đường đó, tôi có đến chào thầy Nam, trưởng phân đường Nghĩa Dũng Karatedo Hà Nội và tôi có hỏi thầy câu đầu tiên: Thưa thầy, ở độ tuổi của em giờ mới đến với Karatedo thì có muộn quá không thầy?! Thầy chỉ nhìn tôi, mỉm cười và nói: Không bao giờ là muộn. Vâng, tôi tự nhủ với lòng mình: Không bao giờ là muộn. Tôi biết rằng, trong thể thao, nhất là trong Võ thuật thì có hai yếu tố rất quan trọng đối với người tập luyện muốn đạt được một trình độ nhất định nào đó: Đó là sức trẻ và tố chất bẩm sinh. Thiếu một trong hai yếu tố này sẽ rất khó để đạt được đến một trình độ nào đó trong Võ thuật. Còn tôi, tôi lại thiếu cả hai yếu tố đó. Nhưng không sao, tôi tự nhủ với lòng mình rằng tôi có thể tập Karatedo không giỏi như bao người khác, khả năng của tôi có thể sẽ không đạt được chiếc đai đen cao quý kia. Nhưng tôi đến với Karatedo bằng một tấm lòng thành tâm nhất. Và tôi chọn Karatedo như là một con đường để rèn luyện tinh thần và thể chất cho riêng mình. Và đối với mỗi con người thì việc học, việc rèn luyện bản thân là một việc làm của cả đời người.

Những buổi tập đầu tiên quả là thử thách cho hệ thống cơ bắp và gân cốt của tôi khi chưa quen với hàng loạt những động tác kỹ thuật cơ bản của Karatedo. Sau mỗi buổi tập trở về nhà toàn thân nhức mỏi ê ẩm, nhưng rồi cơ thể cũng đã bắt đầu quen dần với những động tác đó. Tôi cũng rất xúc động trước sự chỉ dạy tận tình của thầy Nguyễn Phương Nam, thầy Trung Anh và thầy Huy, đã nắn chỉnh từng ly, từng tý một những động tác cơ bản cho tôi những buổi đầu chập chững. Tôi còn nhớ có những buổi tập thầy Nguyễn Phương Nam còn ân cần cúi xuống cầm lấy bàn chân ướt đẫm mồ hôi của tôi để nắn chỉnh động tác, tư thế của bàn chân sao cho đúng khi thực hiện một thế tấn, một cú đá, lúc đó trong lòng tôi chợt dâng lên một cảm giác xúc động vô cùng. Và một điều thật đáng mừng là sau những buổi tập về sau này tôi như cảm thấy trong cơ thể mình bắt đầu có sự thay đổi tích cực rõ rệt: Cảm thấy người nhẹ nhõm, thanh thoát hơn, linh hoạt hơn…

Do đặc thù công việc của các thành viên trong phân đường Nghĩa Dũng Karatedo Hà Nội, ai cũng có những công việc của riêng mình, cũng đều bận rộn trong cuộc mưu sinh hằng ngày nên chúng tôi chỉ có thể tập luyện cùng nhau duy nhất một buổi vào các sáng Chủ Nhật hằng tuần. Riêng tôi có lẽ được may mắn hơn là tôi có thêm 3 buổi tập nữa cùng với vị sư huynh là anh Xuân Anh của tôi tại mảnh sân nhỏ trong công viên Định Công mà giờ đây mảnh sân nhỏ đó đã trở nên một phần thân quen trong mỗi chúng tôi. Cũng kể từ khi tôi đi tập võ, thời gian dành cho vợ con cũng ít đi. Một tuần 3 buổi tập sau giờ làm việc ở Công ty, lúc trở về nhà cũng là khoảng 9h30 phút tối. Lúc nào vợ tôi cũng đã để phần cho tôi một mâm cơm tươm tất và cô ấy không hề kêu ca, cằn nhằn về việc tôi thường xuyên về muộn và không ăn tối cùng vợ con. Tôi thực sự thầm cảm ơn vợ tôi nhiều lắm!

Đúng như người ta vẫn thường nói: Luyện võ là khổ luyện, là ý chí là bền bỉ… Võ thuật theo tôi nó khó hơn bất kỳ bộ môn thể thao nào khác những động tác cơ bản như: Tấn pháp (Daichi), đấm (Tsuki), đá (Geri), đỡ (Uke) v.v để thực hiện đúng kỹ thuật phải lặp đi lặp lại hàng trăm, hàng nghìn lần.. Đôi khi nó có thể đưa ta vào cảm giác nhàm chán, nhưng chính điều đó mới là cái phương cách để ta rèn luyện tính kiên trì, bền bỉ… Qua năm tháng, khi ta đã đạt được đến cái “Thần” của những động tác kỹ thuật đó thì lúc đó ta đã có được “phần thưởng” cho những nỗ lực của mình rồi.

Và hành trình lên đỉnh Bạch Mã Sơn – Huế, một kỷ niệm thật buồn!

Như mọi người đã biết, hằng năm sau kỳ thi sát hạch về chuyên môn cho các môn sinh tân huyền đai của Nghĩa Dũng Karatedo, thử thách cuối cùng do Thầy Nguyễn Văn Dũng – Sư trưởng phân đường Nghĩa Dũng Karatedo đặt ra cho các môn sinh tân huyền đai là cuộc hành trình lên đỉnh Bạch Mã Sơn thuộc khu bảo tồn rừng Quốc gia Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây là cuộc hành trình thử thách về thể lực, ý chí của các tân huyền đai trước khi được Thầy trao chiếc đai đen vĩnh cửu trên Hải Vọng Đài. Và tôi, một môn sinh mới đeo đai trắng tinh lại được Thầy ưu ái cho tham gia hành trình Bạch Mã Sơn như một thành viên của đoàn Nghĩa Dũng Karatedo Hà Nội. Phải nói là trước cuộc hành trình này, tất cả các anh em huynh đệ trong đoàn Nghĩa Dũng Karatedo Hà Nội đều rất háo hức chuẩn bị cho ngày lên đường. Tôi và vị sư huynh của tôi, anh Xuân Anh cũng vậy, hai anh em đều rất háo hức và chuẩn bị khá chu đáo cho cuộc hành trình Bạch Mã Sơn này, trước đó hai anh em chúng tôi đã thực hiện thử một cuộc hành trình lên đỉnh Tam Đảo, Hà Nội một địa điểm có địa hình khá tương đồng về độ dốc và độ cao với Bạch Mã Sơn. Lần đó, hai anh em chúng tôi thực hiện ngon lành hành trình đi bộ 15km lên đỉnh Tam Đảo trên đôi chân trần. Tôi nhớ trong cuộc hành trình đó chúng tôi chỉ nghỉ dừng chân dọc đường đúng một, hai lần. Về phần tôi, tôi khá tự tin vào thể lực của mình vì cũng thường xuyên tập luyện, và trước đó tôi cũng đã từng chinh phục đỉnh Fansipan huyền thoại với độ cao 3.143m và độ khó trên đường đi gấp nhiều lần đường lên Tam Đảo và Bạch Mã Sơn.
   
Cẩn thận hơn tôi và vị sư huynh của tôi còn chọn ngày xuất phát sớm hơn mọi người trong đoàn. Chúng tôi bắt đầu khởi hành vào Huế vào ngày 27 tháng 6 năm 2017, tức là trước ngày khởi hành hành trình Bạch Mã Sơn 3 ngày. Dọc đường đi chúng tôi thường chọn những bãi biển đẹp men theo con đường Quốc lộ 1A để nghỉ qua đêm và sáng hôm sau rèn thể lực bằng việc chạy bộ 5km theo bờ biển rồi tập cả bài khí công Bát Đoạn Cẩm để tăng thêm nội lực, sau đó lại tiếp tục cuộc hành trình đến Huế. Vâng, chúng tôi đã không hề coi nhẹ cuộc hành quân lên Bạch Mã Sơn. Chúng tôi đã chuẩn bị rất kỹ lưỡng!

Nhưng rồi tất cả mọi sự chuẩn bị kỹ lưỡng đó đều trở nên vô nghĩa chỉ vì một cuộc rượu! Số là hôm đó, vào buổi trưa ngày 29, tháng 6 năm 2017 chúng tôi đã đặt chân đến cố đô Huế, lúc đó tôi chợt nhớ ra là có một người em thân thiết, hiện nay cậu ấy là Công an, đang công tác ở Công an tỉnh Thừa Thiên Huế, hai anh em chúng tôi mười mấy năm nay không gặp nhau. Tôi bèn nhấc máy điện thoại để hỏi thăm cậu ấy, ai dè cậu ấy quá nhiệt tình mời tôi và vị sư huynh của tôi đi ăn trưa bằng được mặc dù chúng tôi đã viện lý do rằng ngày mai chúng tôi sẽ tham gia vào hành trình lên đỉnh Bạch Mã Sơn với Nghĩa Dũng Karatedo vào lúc bốn giờ sáng. Mặc dù vị sư huynh của mình cũng đã can ngăn, và tôi vẫn nhớ rõ những lời huấn thị của các Thầy tôi ở phân đường Nghĩa Dũng Karatedo Hà Nội là phải hết sức tuân thủ kỷ luật trong vấn đề giờ giấc sinh hoạt, bảo đảm sức khỏe trước ngày hành quân. Nhưng rồi vì tính cả nể, nên tôi đã tặc lưỡi nhận lời đi ăn trưa với cậu ấy dù trong lòng tự nhủ sẽ chỉ ngồi trong chốc lát để còn về khách sạn nghỉ ngơi và chuẩn bị tư trang cho cuộc hành quân ngày hôm sau. Khi chúng tôi đến nhà hàng thì cậu em và hai người bạn nữa của cậu ấy đã đợi sẵn với một mâm rượu thịt đề huề. Hai anh em chúng tôi sau bao năm giờ mới gặp lại, tay bắt mặt mừng thế rồi hàn huyên đủ mọi thứ chuyện, chén rượu mềm môi và rồi tôi quên khuấy đi mất cuộc hành quân lên Bạch Mã Sơn từ lúc nào cũng không hay. Chúng tôi cứ ngồi chuyện trò, uống và uống đến lúc chếnh choáng chúng tôi mới giật mình nhìn đồng hồ thì lúc đó đã hơn 9 giờ tối. Lúc đó cậu em tôi với hai người bạn cũng bắt đầu say. Tôi và vị sư huynh của mình vội vã cáo từ mọi người và lên xe trở về khách sạn ở con phố gần Tổ đường của Nghĩa Dũng Karatedo – Số 08 Trương Định, Huế. Ngày hôm sau tôi vẫn không nhớ được rõ làm thế nào mà đêm qua tôi vẫn tự lái xe từ nhà hàng đó về đến khách sạn nơi chúng tôi thuê trọ. Nghĩ lại thật là nguy hiểm bởi nếu tôi lái xe trong tình trạng say xỉn như vậy lỡ có gây ra tai nạn gì thì thật rắc rối biết bao, không những đối với bản thân tôi mà còn làm ảnh hưởng đến cả đoàn Nghĩa Dũng Karatedo Hà Nội. Nhân đây, khi ngồi viết lại những dòng này, cho phép tôi xin được gửi tới các Thầy, các anh em huynh đệ trong phân đường Nghĩa Dũng Karatedo Hà Nội một lời xin lỗi thành tâm nhất. Xin tất cả hãy lượng thứ cho một phút bốc đồng của tôi.

Đêm hôm đó, trong cơn say chếnh choáng, mặc dù bắt đầu thấm mệt nhưng vẫn không tài nào chợp mắt được. Nghĩ đến cuộc hành trình gian nan ngày mai với chiếc ba lô nặng trĩu trên vai, những con dốc dài ngút tầm mắt. Tôi bắt đầu thấy lo lắng, trằn trọc không thể đưa mình vào giấc ngủ được.Nhìn sang giường bên cạnh thấy vị sư huynh của mình đã ngủ ngon lành từ lúc nào, tôi lại càng thấy lo lắng cho mình hơn.

Ba giờ sáng, giờ G đã điểm, tôi bật dậy chuẩn bị hành trang để đến nhà Thầy. Khi đến trước nhà Thầy tôi đã thấy một đoàn quân khoảng hơn 100 võ sinh đã chỉnh tề hàng ngũ, tư trang sẵn sàng đợi hiệu lệnh lên đường. Tôi cũng mong ngóng cái giờ phút được nhìn thấy Thầy lần đầu tiên ngoài đời thực. Và Thầy đã xuất hiện, tôi thực sự ngạc nhiên vì một “ông lão” đã gần 80 tuổi mà vẫn giữ được vóc dáng rắn rỏi, tráng kiện như vậy. Thầy ân cần bắt tay từng người trong đoàn Hà Nội chúng tôi. Trước giờ xuất phát, vợ Thầy cũng đã ra tận cửa để tiễn chồng. Nhìn hình ảnh Thầy ôm vợ tạm biệt tôi mới giật mình tự hỏi: Chết thật, mình đã không ôm vợ mình trước mỗi buổi sáng khi rời khỏi nhà đến Công ty từ bao năm nay rồi mà mình cũng chẳng nhớ nữa!

Sau khi chỉnh đốn hàng ngũ cho đoàn quân Nghĩa Dũng Karatedo, Thầy bắt đầu hạ lệnh xuất phát. Xe đưa đoàn quân đến chân Bạch Mã Sơn vào khoảng 4 giờ sáng. Thầy lại truyền lệnh tập trung hàng ngũ, tổ đội chỉnh tề để nghe Thầy phổ biến những điều lệ, quy định bắt buộc tất cả các thành viên trong đoàn phải tuân thủ nghiêm ngặt. Thầy tỉ mỉ hướng dẫn cho tất cả các thành viên cách phải di chuyển ra sao, tư thế leo dốc, cách giữ nhịp thở như thế nào để không bị đuối sức. Lúc đó tôi đứng cuối hàng, cách xa thày khoảng chừng độ 30 mét, thật kinh ngạc vì tôi vẫn nghe thấy giọng thầy sang sảng, rõ từng câu, từng chữ. Trong đầu tôi thầm thốt lên: Quả là nội công phi phàm! Lúc này tôi mới bắt đầu thấy rõ cái chất “Võ” trong con người thầy. Hình ảnh thầy như một vị lão tướng dạn dày trận mạc, quân lệnh như sơn trước giờ xuất trận.

Khoảng 4 giờ 30 phút sáng khi vừng Đông còn chưa sáng tỏ, thầy truyền lệnh xuất phát, hàng quân từng người một nối tiếp nhau bắt đầu cuộc hành trình thử thách hướng về đỉnh Bạch Mã Sơn. Và thầy, vị lão tướng oai phong, lẫm liệt dẫn đầu đoàn quân đó.

Hành quân xa đâu có nề gian khổ

Chúng tôi bắt đầu di chuyển. Chết rồi, ngay những trăm mét đầu tiên tôi đã cảm thấy bắt đầu có điều gì không ổn đối với mình rồi. Những bước chân nặng nề, gân cốt và cơ bắp như muốn trùng lại, cộng với chiếc ba lô dung tích 65 Lít, trọng lượng ước chừng xấp xỉ 30kg nặng trĩu trên vai do tôi quá tham nhét nhiều hành lý và vật dụng. Tôi phải tự chấn tĩnh mình ngay: Chắc không sao đâu, một lúc nữa khi bắt đầu bắt kịp với nhịp điệu cơ thể mình sẽ dần thích ứng thôi. Dường như cũng thấy được tôi có vấn đề gì đó không ổn nên anh Quang, phó đoàn đã nói với vị sư huynh là anh Xuân Anh phải đi kèm tôi để mọi người trong đoàn bắt kịp với Thầy phía trước. Lúc này tôi mới bắt đầu cảm nhận được tác hại khôn lường của cuộc rượu quá đà tối hôm trước, cơ bắp đã có biểu hiện rệu rã, nhịp thở dốc gấp gáp cộng với độ dốc của con đường lên Bạch Mã Sơn mỗi lúc một tăng dần. Tốc độ di chuyển của tôi bắt đầu chậm dần so với các thành viên khác trong đoàn. Điều duy nhất của tôi lúc này có thể làm được là phải giữ vững tinh thần không được lo lắng khi còn cả một quãng đường dài phía trước. Ngay chặng nghỉ đầu tiên thì tôi đã là kẻ đến đích chậm nhất, lúc đó thầy và cả đoàn quân thấy tôi đi tới, thầy và tất cả mọi người đã dành cho tôi một chàng vỗ tay khích lệ tinh thần. Xin nói thật với mọi người rằng lúc đó tôi bắt đầu có cảm giác xấu hổ với mọi người, tôi chỉ biết lách lên phía trước một đoạn để ngồi nghỉ một mình chứ ngại không dám ngồi cùng với Thầy và mọi người.

Một hồi còi vang lên, Thầy truyền lệnh tất cả mọi người tiếp tục di chuyển.

Trong lúc này, khi thấy tôi bắt đầu có vấn đề, một số huynh đệ trong đoàn có nói với tôi: Nếu ba lô của anh nặng quá, anh có thể san sẻ bớt cho mọi người để di chuyển sẽ dễ dàng hơn. Thú thực với mọi người rằng lúc đó tôi muốn lắm chứ, thậm chí nếu có thể tôi còn muốn vứt quách cái ba lô này đi cho rồi. Nhưng chợt nghĩ: Như thế thì xấu hổ quá, gánh nặng của mình sao có thể trút sang người khác được chứ. Nghĩ vậy bèn nói sỹ diện: Cảm ơn các anh em, mình không sao đâu, chẳng qua là mình muốn nhân dịp này rèn luyện thêm mấy thành công lực nữa nên cố vác nặng xem sao!

Thầy và đoàn quân tiếp tục tiến lên phía trước, còn tôi và vị sư huynh của tôi cứ tụt lại dần, tụt lại dần… Bóng Thầy và đoàn quân phía trước cứ xa mờ dần rồi khuất hẳn sau dãy núi. Lúc này thi thoảng tôi mới nghe được những tiếng cười đùa, tiếng hú của ai đó trong đoàn quân từ xa vọng lại…

Đến Ki lô mét thứ 10, lúc này ở nhóm cuối còn có một anh cũng là tân huyền đai. Thật trùng hợp ngẫu nhiên anh này lại vừa trùng cả tên, cả họ, cả tuổi với tôi nữa mới chết chứ. Cũng tên Nguyễn Đăng Khoa, cũng tuổi Quý Sửu 1973 như tôi, anh này người Nghệ An, nhưng dường như là đang gặp vấn đề về sức khỏe còn hệ trọng hơn cả tôi lúc này, bởi tôi thấy anh cứ chống gậy bước đi khoảng 50 mét lại đứng lại chống gậy thở dốc. Hỏi ra thì tôi mới được biết anh vừa trải qua một cuộc phẫu thuật thoát vị bẹn nên đi được đến nửa chặng như thế này cũng là một sự cố gắng. Lúc đó anh đành phải nhờ đến cứu hộ là anh Đoàn Chí Đạo, chủ tịch hiệp hội Karatedo Đà Nẵng lái xe xuống đón. Lúc này thấy tôi cũng có vẻ nặng nề, anh Đoàn Chí Đạo cũng nói với tôi:
- Em để ba lô lên xe đi, anh chở lên cho.
- Dạ, em cảm ơn anh, em vẫn đi được bình thường ạ.

Và thế là lúc này đây con đường chỉ còn lại có tôi và vị sư huynh của tôi là hai kẻ độc hành. Đây cũng là lúc cuộc đấu tranh giữa ý chí và cơ bắp bắt đầu đến hồi quyết liệt. Mỗi bước chân của tôi lúc này cảm thấy như đeo đá tảng vậy, cứ bước độ 50 mét về phía trước là tim đập như chỉ muốn bắn ra khỏi lồng ngực, lại phải dừng lại mấy phút để hít thở. Liếc nhìn đồng hồ lúc này đã là 1 giờ chiều, mệt và đói. Thú thực là tôi cũng đã đi “phượt” khá nhiều lần, cũng đã từng leo núi khá nhiều lần nhưng chưa lần nào tôi lại bị rơi vào tình trạng tệ hại như lúc này! Thỉnh thoảng phóng tầm mắt về phía đỉnh núi phía trước giữa một màu xanh thẫm của núi rừng là còn đèo  như một dải lụa trắng vắt từ bên này sang bên kia sườn núi. Ôi chao, lúc này cảm giác như cái dải lụa trắng kia sao mà nó lại dài tưởng chừng như bất tận… Lúc này tôi vẫn phải quyết tâm giữ vững tinh thần, cho dù phải chết cũng phải lên đến đỉnh núi cho bằng được! Vị sư huynh đi cùng tôi đã nhiều lần nói như ra lệnh cho tôi là hãy đổi balo cho anh ấy, nhưng tôi nhất quyết không! Tôi nói: Đồ của em thì em phải mang nó, em không thể để anh mang nó được. Khi tôi không chịu nghe lời anh còn nổi cáu với tôi:
- Chú không nghe lời anh, anh đánh chú bây giờ!
- Vâng, giờ anh có đánh chết em thì em cũng không chịu!

Nhân việc nhắc đến vị sư huynh của tôi, anh Xuân Anh, anh hơn tôi 2 tuổi, anh sinh năm 1971, tuổi Tân Hợi. Anh em tôi biết nhau cách đây đã ngót 20 năm, hồi đó tôi gặp anh ở vùng đất Lam Kinh, Thanh Hóa khi vào làm Dự án xây dựng nhà máy đường Lam Sơn. Ở hai anh em chúng tôi có khá nhiều điểm tương đồng về cá tính, về nhân sinh quan đối với cuộc sống, Xã hội. Cùng có chung sở thích uống rượu và sưu tầm các loại rượu như tôi. Anh chính là người đã truyền cảm hứng rất nhiều cho tôi bởi sự đam mê với Võ thuật, nhất là với Karatedo, một ý chí luyện tập bền bỉ. Vượt lên sự thua thiệt về thể hình do cha mẹ sinh ra. Tôi có thể dám khẳng định một điều rằng nếu so về thể lực, độ dẻo dai, bền bỉ thì anh ấy là số một trong tất cả các môn sinh của Nghĩa Dũng Karatedo Hà Nội. Triết lý tập luyện Karatedo của anh ấy, theo tôi cũng rất đơn giản và hữu hiệu. Anh thường nói với tôi thế này:

Bản chất của Karatedo nó nằm trong chính cái tên gọi của nó: Kara có nghĩa là trống không, te là tay. Vậy việc rèn luyện Karate là rèn luyện để cho tay, chân và các bộ phận trên cơ thể như một thứ vũ khí được sử dụng vào đòn tấn công hay chống đỡ phải cứng như sắt thép. Đánh vào đâu là phải có sức công phá, và khi chịu đòn thì không có cảm giác đau đớn.Việc rèn luyện kỹ thuật căn bản cũng cực kỳ quan trọng. Nhưng, để hoàn thiện được kỹ thuật thì không phải là một sớm một chiều, có thể là hằng năm trời, có thể là cả một đời người.

Nhưng trong chuyến đi này, vì tôi mà anh ấy cũng đã phải hy sinh danh dự cá nhân. Trong suốt cuộc hành trình này anh ấy luôn đi bên cạnh tôi, động viên, khích lệ mà không một lời trách móc, mắng mỏ. Để rồi cuối cùng anh ấy vẫn vui vẻ chấp nhận mang tiếng xấu là một kẻ về bét cùng với tôi. Anh đã thể hiện rõ nét tinh thần Hoa Anh Đào. Đã bung nở thì cùng bung nở rực rỡ, đã lụi tàn thì cùng lụi tàn. Chứ nếu không, tôi dám đánh cược với mọi người rằng anh ấy nếu không vướng bận vì tôi thì chắc chắn anh ấy phải là một trong những người tốp đầu cán đích! Tôi thầm cảm phục anh nhiều lắm!

2h 30 phút chiều. Bầu trời Bạch Mã bỗng chốc mây đen vần vũ kéo tới, sấm chớp bắt đầu nổi lên. Chợt nghĩ tới lời thầy dặn trước lúc hành quân: Các em nên nhớ ở rừng Quốc gia Bạch Mã này thì ngày nào cũng sẽ có mưa, mà mưa ở đây thì dữ dội lắm! Vâng, điều này thì con biết Thầy ạ, vì địa hình núi non ở đây giáp với Biển, lượng hơi nước bốc lên sẽ rất lớn sẽ nhanh chóng tụ lại thành những đám mây đặc quánh và tạo thành những cơn mưa như trút.

Lúc này hai huynh đệ chúng tôi đang ở vị trí km thứ 15. Tức là còn 5km nữa mới lên tới đích. Và cơn mưa bắt đầu ập tới. Vâng, quả đúng như lời thầy nói. Thật dữ dội. Tôi lôi vội chiếc bạt Nilon dày cộp, diện tích 9m2 từ trong ba lô ra, mỗi đứa cầm một đầu đứng chịu trận giữa trận mưa như trút. Vâng, giờ chúng tôi mới biết thế nào là cơn mưa rừng Bạch Mã. Chỉ một loáng, nước dồn từ các vách nũi, từ trên xuống trút thẳng xuống con đường đèo nơi chúng tôi đang đứng. Lúc này chúng tôi có cảm giác như chúng tôi đang đứng giữa dòng suối nước cuộn chảy ầm ầm vậy. Nước lạnh buốt đôi bàn chân, tôi thì ngồi co ro trên vỉa Ta Luy bên vệ đường còn sư huynh của tôi vẫn bình thản, vững chãi đứng im, tay vẫn nắm chắc một bên tấm bạt. Khát nước, tôi bèn lấy chiếc vỏ chai không hứng từng dòng nước mưa. Ôi chao, nước mưa rừng Bạch Mã mát rượi, ngọt lịm. Ngon quá, tu hết một chai, lại hứng chai tiếp theo. Tôi chợt thầm mỉm cười với chính mình: Xem ra đây là một chuyến đi thất bại nhưng mình cũng có kỷ niệm thật thú vị đây.

Mưa mãi rồi thì cũng phải tạnh, sau cơn mưa kéo dài chừng hơn nửa giờ đồng hồ trời mới tạnh. Gấp vội tấm bạt cho vào ba lô, hai anh em chúng tôi lại tiến lên phía trước. Nhưng lúc này tôi bắt đầu cảm thấy không ổn nữa rồi, sau cơn mưa vừa rồi có lẽ khi cơ thể đang yếu, lại bị nhiễm lạnh nên tôi bắt đầu có biểu hiện bị cảm. Đầu bắt đầu váng vất, nóng lên. Thấy vậy vị sư huynh của tôi liền gọi ngay cho anh Quang, phó đoàn nhờ nói với thầy cho xe xuống cứu hộ. Lúc này tôi vẫn nói với vị sư huynh của mình. Em vẫn cố được, dù có chết em cũng phải lên đỉnh cho bằng được. Tôi vẫn lảo đảo bước đi với chiếc ba lô nặng trĩu trên vai, trước mặt là những con dốc càng ngày càng dốc. Nhích từng mấy chục mét, lại dừng lại thở dốc, lại nhích mấy chục mét tiếp theo, lại dừng lại thở dốc… Vừa lê bước trong đầu tôi vừa nói với chính mình: Phải cố lên cố nữa lên, mình không thể đớn hèn như vậy được. Và trong lúc chờ xe xuống cứu hộ tôi vẫn cố lết lên được thêm 1 km nữa. Còn 4 km phía trước, lúc này bất chợt có một chiếc ô tô từ dưới phóng lên, trên xe là một người đàn ông đã ngoài lục tuần nhưng dáng dấp vẫn rất rắn rỏi. Vị sư huynh của tôi liền vẫy bác tài dừng xe lại, qua lời giới thiệu mới được biết bác ấy trước đây cũng là một môn đồ của thầy Suzuki Choji. Lần này cũng tham gia hành trình Bạch Mã Sơn theo lời mời của Thầy. Vị sư huynh của tôi ngỏ ý muốn bác ấy cho đi nhờ xe lên đỉnh vì tôi đang bị cảm. Lúc đó tôi vẫn nói:
- Anh cứ để em đi, em vẫn cố được, chứ em đã lên được đến đây rồi mà lại nhảy lên xe thì lên đến nơi em xấu hổ lắm, không còn mặt mũi nào để nhìn thấy mọi người nữa đâu.

Đến lúc này thì chắc vị sư huynh của tôi đa không còn giữ được sự bình tĩnh với tôi nữa. Anh ây quát lên:
- Chú đừng có bướng nữa! Ốm tha, già thải. Thầy và mọi người sẽ không ai nỡ trách chú đâu, và chú nên nhớ cuộc hành trình vẫn còn chặng tiếp theo cho ngày mai. Chú phải biết giữ sức, nếu chú ốm bây giờ thì coi như những chặng tiếp theo sẽ hỏng hết.

Bác tài già cũng động viên tôi:
- Không sao đâu cháu à, thầy biết cháu bị cảm thế này thầy sẽ không trách gì cháu đâu.

Đến nước này thì tôi phải ngoan ngoãn vâng lời và bước lên xe. Khi xe đưa chúng tôi tới chân Hải Vọng Đài, tôi cảm ơn bác tài già, khoác ba lô lên vai, lầm lũi bước lên những bậc thang cuối cùng. Thú thực rằng lúc đó tôi không dám nhìn thẳng phía trước nữa, cái da mặt tôi lúc đó cảm giác như nó đang dày cộm lên, tôi có cảm giác như có hàng trăm con mắt đang đổ dồn vào cái dáng đi thất thểu của tôi. Một cảm giác hổ thẹn vô cùng. Tôi không nói gì, lẳng lặng tìm một góc khuất trong Hải Vọng Đài. Lúc đó có anh Quang, phó đoàn và cậu Đức là bác sỹ của bệnh viện lão khoa trung ương đến ân cần hỏi han tình hình sức khỏe của tôi, mắc võng cho tôi nằm. Đức thì đi lấy thuốc chống cảm cho tôi uống, biết tôi lúc trưa nhịn đói không ăn gì, một lát sau cậu ấy chạy xuống bếp và đem lên cho tôi một bát canh mướp nóng hổi. Ngon quá, ngọt lịm. Tôi uống mấy viên thuốc cảm và húp một hơi bát canh mướp đó, lúc đó tôi thấy người nhanh chóng tỉnh táo lại. Trong tôi một cảm giác thật sự xúc động, thắm tình huynh đệ, đồng đội của anh em dành cho tôi.

Tôi nằm trên võng, thiếp đi một lát, lúc đó trời cũng đã bắt đầu nhá nhem tối, tôi nghe thấy giọng Thầy hỏi những người trong đoàn của tôi:
- Đâu rồi, anh nào bị cảm đâu rồi.

Tôi bật dậy, đi lại phía Thầy:
- Dạ, thưa Thầy con đây ạ. Con đã đỡ rồi Thầy ạ

Thầy lại bên tôi, ân cần như một người cha, Thầy đưa tay lên trán tôi xem có còn sốt nữa không. Rồi Thầy ôn tồn quay lại dặn mọi người chuẩn bị cơm nước cho bữa tối để còn kịp chương trình sinh hoạt buổi tối của cả đoàn trên Hải Vọng Đài.

Buổi tối sinh hoạt trên Hải Vọng Đài hôm đó, Thầy ngồi giữa, tất cả các môn sinh ngồi quay quần xung quanh thầy. Riêng đoàn Nghĩa Dũng Karatedo Hà Nội chúng tôi được Thẩy ưu ái cho ngồi phía sau, gần Thầy nhất. Cảm giác một đại gia đình Nghĩa Dũng Karatedo lúc này thật ấm áp, tất cả ranh giới về vùng miền đai đẳng lúc này đều bị xóa nhòa. Tất cả đều quây quần bên nhau, hướng về phía Thầy. Lúc này tôi lại chợt nhận ra Thầy như một người ông, một người cha gần gụi giữa một đàn con cháu xung quanh. Thầy bắt nhịp cho tất cả hát vang những bài ca truyền thống của Nghĩa Dũng Karatedo. Vẫn cái giọng nói trầm hùng, sang sảng đầy nội lực đó. Nhưng lúc này đây, thay vì truyền đi những mệnh lệnh là những câu truyện kể về đạo Võ và đạo Đời. Với lối dẫn dắt câu chuyện ngắn gọn mà sâu sắc Thầy đã gửi vào đó những bài học đối nhân xử thế cho chúng tôi.

Trong buổi sinh hoạt trên Hải Vọng Đài buổi tối hôm đó, Thầy còn có nhã ý ngâm tặng cho đoàn Hà Nội chúng tôi một bài thơ rất nổi tiếng của nhà thơ Quang Dũng. Đó là bài: Đôi mắt người Sơn Tây, bài thơ này đã từng được nhạc sỹ Phạm Đình Chương phổ nhạc và đã trở thành một bản tình khúc rất hay và da diết. Nhưng trong buổi tối hôm nay, giữa Hải Vọng Đài này tiếng ngâm thơ của Thầy dường như đã thổi thêm hồn da diết cho bài thơ vốn đã nổi tiếng đó.

Lễ phong Huyền đai

Buổi sáng sớm hôm sau, khi hừng đông vừa ló rạng, tất cả mọi thành viên lúc này đã chuẩn bị võ phục chỉnh tề để chuẩn bị cho buổi lễ phong đai cho các tân huyền đai. Tôi lúc này cũng đã hoàn toàn hồi phục sức khỏe sau một đêm được ngủ no giấc, cũng khoác bộ võ phục với chiếc bạch đai trắng tinh lên người. Lúc này tôi mới có dịp ngắm toàn cảnh rừng Quốc gia Bạch mã từ trên Hải Vọng Đài. Đẹp quá! Từ đây phóng tầm mắt ra xa là cả một vùng biển trời bao la, cả một vùng phá Tam Giang được thu trọn vào trong tầm mắt. Bầu trời đằng Đông được nhuộm một màu hồng thẫm như vẽ lên một bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp. Tôi cũng có dịp được đi đến nhiều nước. Nhưng phải thừa nhận một điều rằng không nơi đâu mà phong cảnh thiên nhiên lại tuyệt đẹp như ở Việt Nam mình.

Khi mặt trời bắt đầu ló rạng thì cũng đã đến giờ Thầy bắt đầu buổi lễ phong đai cho các tân huyền đai. Lúc này thầy trong bộ võ phục Karatedo truyền thống, lại trở lại hình ảnh uy dũng của một vị võ tướng. Thầy bắt đầu truyền lệnh cho tất cả các môn sinh hàng ngũ chỉnh tề, nhưng trong lúc chỉnh đốn hàng ngũ đó có một số môn sinh lung túng không làm theo đúng ý, lập tức bị Thầy mắng cho một trận ra trò. Tôi để ý những lúc Thầy nổi giận như vậy thì từ những anh huấn luyện viên huyền đai tứ đẳng, ngũ đẳng cho đến các tân huyền đai đều nem nép như những đứa trẻ sắp bị đòn. Vâng, như một đội quân, kỷ luật chính là sức mạnh của đội quân đó. Và để làm được điều đó thì cần nhất là cái “ UY” của vị tướng. Và những lúc như thế này đây tôi lại thấy cái UY đó của Thầy thật có sức nặng ghê gớm!

Buổi lễ phong đai diễn ra trong không khí hết sức trang nghiêm, giữa một phong cảnh núi rừng bao la, hùng vĩ đã làm nên những khoảnh khắc tuyệt đẹp. Tôi bỗng thầm ước giá có một ngày mình cũng được mang trên mình chiếc đai đen vĩnh cửu kia trên đỉnh Bạch Mã Sơn.

Sau khi đã trao chiếc huyền đai cho từng môn sinh, Thầy có nói đôi điều với các môn sinh về Võ đạo. Tôi nhớ nhất câu Thầy nói: Học võ để không phải dùng đến võ. Vâng, có lẽ theo tôi hiểu rằng đây mới chính là cảnh giới cao nhất của người luyện võ. Đúng như Thầy đã nói: Cách chiến thắng và cảm hóa đối phương cao cả nhất là mạnh mẽ hơn đối phương và quay trở lại tha thứ và bao dung! Thầy còn nói: Cho đến bây giờ Thầy vẫn chỉ nhận thầy là một môn đồ của Karatedo. Tôi hiểu rằng thầy muốn gửi gắm một thông điệp đến cho tất cả các môn sinh: Hãy rèn luyện thể chất và tinh thần cho đến chừng nào trái tim còn đập.

Sau khi kết thúc buổi lễ phong đai đầy ý nghĩ trên Hải Vọng Đài, Thầy truyền lệnh tất cả xuất phát tiếp tục cuộc hành trình tới chân thác Đỗ Quyên. Trong suốt cả cuộc hành quân, Thầy không bao giờ quên việc yêu cầu mọi người dọn vệ sinh và đích thân mình đi kiểm tra..
Tôi lúc này đã hoàn toàn lấy lại sức khỏe sau cái trận rượu tai hại hôm trước. Vẫn chiếc ba lô đó trên vai, nhưng hôm nay tôi thấy từng bước chân của mình rất chắc chắn, nhịp thở đã sâu và đều.

Cheo leo Ngũ hồ

Đến điểm dừng chân chuẩn bị băng rừng đến chân thác Đỗ Quyên. Thầy lại tập trung tất cả mọi người để phổ biến những kinh nghiệm đi rừng. Tất cả đều rất ngắn gọn, thiết thực nhất. Nhân đây tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến HLV Trần Văn Lợi, một trong những người học trò suất sắc của Thầy đã luôn sát cánh cùng đoàn Hà Nội chúng tôi. Bằng kinh nghiệm dạn dày của mình trong những chuyến đi Bạch Mã Sơn cùng Thầy trước đây, Lợi đã hỗ trợ đoàn chúng tôi rất nhiều. Và tôi cũng học hỏi thêm được từ Lợi thật nhiều kinh nghiệm đi rừng cũng như những đức tính con nhà Võ cần phải có. Rất tình cảm, khiêm nhường nhưng vẫn toát lên đầy vẻ rắn rỏi, mạnh mẽ! Với tôi, Lợi xứng đáng với biệt danh: Iron Man (Người thép).

Đoàn Hà Nội chúng tôi tới chân thác Đỗ Quyên sau cùng, khi chúng tôi tới điểm tập kết thì cũng đã thấy các đoàn khác khẩn trương bắt tay vào công việc dựng trại, nhóm bếp nấu ăn. Lúc này một không khí nhộn nhịp tiếng cười nói cũng với tiếng ầm ào của con thác Đỗ Quyên từ xa vọng lại tạo nên một âm thanh rất sống động xua tan đi cái không khí u tịch của núi rừng lúc chiều tà.

Lúc này tôi và mọi người đảo mắt nhìn quanh thì thấy hầu hết “những chỗ đẹp” đã được các đoàn khác chiếm giữ, chỉ còn lại đoạn bậc thang dốc, hai bên có hai thanh tay vịn bằng thép ống. Lúc này HLV Lợi mới nói với tất cả mọi người: Chúng ta sẽ căng bạt, mắc võng ở đây. Tôi và một số người khác trong đoàn thoáng một chút băn khoăn, không biết sẽ mắc võng ở đây thế nào trên hai thanh tay vịn ẽo ọt kia?! Nhưng rồi cảm giác lo lắng đó đã bị xua tan ngay lập tức khi Lợi bắt tay vào công việc gia cố hai thanh tay vịn đó, bằng những vật dụng mang theo như gậy, dây thừng. Chỉ 30 phút sau chúng tôi, mỗi người một công việc đã tạo nên một kết cấu liên kết rất vững chắc dựa trên hai thanh tay vịn đó. Bây giờ nó đã đủ sức để chịu được sức nặng của 14 con người chúng tôi.

Sau khi đã hoàn tất công việc căng lều, mắc võng chúng tôi bắt tay vào công việc bếp núc cho bữa tối. Lúc này Thầy đi từng đoàn để thị sát và thăm hỏi tình hình chuẩn bị lán trại đến đâu. Khi tới khu vực đoàn Hà Nội chúng tôi, Thầy nói đùa với chúng tôi rằng: Ồ.. cái đoàn Hà Nội thanh lịch này đi đâu tụi nó cũng thanh lịch hen! Ngay như cái vị trí cắm trại cũng rất thanh lịch hề..! Tất cả chúng tôi đều cười sảng khoái trước câu nói vui của Thầy.

Lúc này một số thành viên của các đoàn vì quá phấn khích trước vẻ đẹp hùng vĩ của thác Đỗ Quyên đã trốn Thầy xuống dưới chân thác để mong kiếm vài kiểu ảnh để đời. Khi phát hiện ra, ngay lập tức bằng một hồi còi dứt khoát, Thầy truyền lệnh tất cả phải lên ngay. Vâng, nếu ai đó không hiểu thầy, hay chưa hiểu hết ý nghĩa của cuộc hành quân Bạch Mã này thì có thể cho rằng Thầy quá nghiêm khắc và cứng nhắc chăng?! Riêng tôi, tôi cho điều đó là vô cùng cần thiết. Kỷ luật luôn luôn là kỷ luật và không có ngoại lệ. Nếu chỉ buông lỏng một lúc, lỡ có chuyện không may xảy ra với bất kỳ ai trong đoàn quân đó thì coi như cuộc hành quân đó sẽ hỏng. Ý nghĩa sẽ không còn trọn vẹn nữa. Và một lần nữa trong lúc này, cái UY của Thầy lại được phát huy đúng lúc.

Đêm hôm đó nhiệt độ bắt đầu xuống thấp, lạnh và mưa rừng rả rích nhưng mọi người đều rất vững tâm cho hành trình ngày mai. Các anh em huynh đệ chúng tôi nằm trong võng nhưng vẫn cùng nhau hát vang núi rừng những bài ca truyền thống của Nghĩa Dũng Karatedo. Và sau đó ai cũng chìm vào giấc ngủ ngon lành.

Dưới chân thác Đỗ Quyên


Sáng sớm hôm sau, sau khi mọi thành viên đã mang võ phục chỉnh tề. Thầy phát lệnh từng người một di chuyển xuống thác Đỗ Quyên. Lúc này Thầy lệnh cho một số anh em huấn luyện viên chuẩn bị những đoạn dây thừng chắc chắn. Và Thầy là người đầu tiên đu dây thừng di chuyển xuống dưới chân thác. Sở dĩ như vậy là Thầy muốn thị phạm trước cho các môn sinh của Thầy. Lúc đầu chúng tôi không khỏi ái ngại cho Thầy vì tuổi đã cao. Nhưng không, một lần nữa Thầy lại làm cho đám môn sinh chúng tôi phải tròn mắt ngạc nhiên về độ dẻo dai, quyết đoán của Thầy khi di chuyển từng bước chắc chắn xuống dưới chân thác. Lúc này Thầy mới hạ lệnh cho từng cá nhân của mỗi đoàn bám dây thừng di chuyển xuống phía dưới. Riêng đoàn Hà Nội chúng tôi được thầy ưu tiên cho xuống trước. Sau đã ổn định đội hình thầy bắt đầu truyền lệnh tất cả đứng tấn Siko Dachi và thực hiện các đòn Teken, Shuto cùng với tiếng thét “Kiai” vang động núi rừng, hình ảnh đoàn quân Nghĩa Dũng Karatedo lúc này thật vô cùng hoành tráng. Trong đời tôi sẽ nhớ mãi khoảnh khắc tuyệt vời này.

Sau khi đã ghi lại những hình ảnh để đời tại chân thác Đỗ Quyên đoàn quân lại trở về vị trí cắm trại, thu dọn tư trang, hành lý để chuẩn bị cho đoạn cuối của cuộc hành trình: Di chuyển lên phía đỉnh thác. Lúc này Thầy lại tập hợp đội ngũ và truyền lệnh xuất phát. Điểm tập kết là vị trí đỉnh thác. Đoàn Hà Nội chúng tôi được Thầy truyền lệnh dẫn đầu. Lúc này khi sức lực đã được hồi phục tôi cảm thấy khá tự tin với thử thách trước mắt: Vượt 700 bậc thang dựng đứng. Cũng với chiếc ba lô trên vai, lần này tôi xung phong xách luôn một cái nồi thường dùng để nấu cơm cho cả đội. Rất may lần này tôi là một trong số những người đầu tiên cán đích trên đỉnh thác Đỗ Quyên. Tại đây chúng tôi được tắm ở con suối mát lạnh trên đỉnh thác. Sau đó chúng tôi ai nấy lại võ phục chỉnh tề để cùng thầy ghi lại những hình ảnh đáng nhớ trên đỉnh thác.

Trên đầu thác Đỗ Quyên


Từ đỉnh thác Đỗ Quyên chúng tôi chỉ còn phải đi bộ xuyên rừng một quãng đường ngắn nữa đến điểm tập kết để lên xe ô tô xuống núi, kết thúc cuộc hành trình. Đến điểm tập kết, Thầy vẫn truyền lệnh cho tất cả các thành viên phải hàng ngũ hỉnh tề trước khi lên xe. Tại đây thầy đã nói cho chúng  tôi rằng: Khi bắt đầu cuộc hành trình trật tự, kỷ luật như thế nào thì khi kết thúc cuộc hành trình cũng phải trật tự và kỷ luật như vậy…Và điều đặc biệt nữa Thầy căn dặn là khi đi vui vẻ/ khí thế như thế nào thì khi về cũng vẫn phải nên như vậy. Cũng giống như khi ta đã yêu một ai đó, nhưng vì hoàn cảnh hay một lý do nào đó dẫn đến cuộc chia ly, thì ta hãy mãi luôn dành tình cảm tốt đẹp cho người đó thay vì trách móc hay nói những điều xấu xa về họ. Vâng, đó chính là thông điệp mà thầy muốn trao gửi tới các môn sinh về lòng thủy trung, cao thượng của con nhà Võ.

Cuộc hành trình Bạch Mã Sơn đến đây đã kết thúc, ai nấy cũng đều phấn chấn trước những thử thách mà mình đã vượt qua. Riêng tôi, chợt thoáng buồn khi nghĩ lại hành trình nhọc nhằn trên con đường chinh phục đỉnh Bạch Mã Sơn. Nhưng qua cuộc hành trình này tôi đã tự đúc rút ra những bài học quý báu cho riêng mình. Tôi tự nhủ với bản thân rằng sẽ không bao giờ lặp lại sai lầm tương tự như vậy nữa. Vâng, không có một con đường dẫn tới thành công nào mà trải đầy hoa Hồng. Đôi khi trong cuộc đời ta cũng phải biết cách thất bại. Và phía trước trong cuộc đời của mỗi chúng ta sẽ còn có nhiều hành trình “Bạch Mã Sơn” nữa. Và tôi, tôi tự nhủ với lòng mình rằng: Nhất định một ngày nào đó tôi sẽ trở lại Bạch Mã Sơn trong một tâm thế khác.

Tới đây tôi xin mượn một câu nói của nhà văn Samuel Barklay Beckett người Ireland đã từng đoạt giải Nobel văn học để thay cho câu kết của bài viết của tôi:
Ever tried, ever failed. No matter. Try again, fail again. Fail Better!
Đã thử, đã thất bại. Không quan trọng. Thử lại và lại thất bại. Thất bại làm cho ta tốt hơn!


Hà Nội, ngày 9 tháng 7 năm 2017



            

 Luận văn thu hoạch

 
 1   2   3   4   5  > >>

  Trước    In trang