Trang chủ : Tư liệu
Hành hương lên Bạch Mã

      

Nguyễn Việt Quang
PĐ Nghĩa Dũng Karate-Do Hà Nội


Tôi bắt đầu tập Karate từ đầu những năm 1990 với các HLV Lê Đình Khánh và Nguyễn Phương Nam. Hồi đó chúng tôi gọi Huấn luyện viên là anh. Hai anh đều là bác sĩ, ra Hà Nội học và được giao nhiệm vụ phát triển Nghĩa Dũng Karate-Do tại thủ đô. Lớp chủ yếu là sinh viên, đi xe đạp, tập ở sân trường. Cuối buổi tập cả lớp thỉnh thoảng có một thùng nước vối để uống. Do nhiều khó khăn từ cơ quan quản lý tại địa phương nên lớp phải chuyển địa điểm liên tục. Cứ gần một năm lại chuyển, khoảng 6, 7 lần tất cả. Nhưng với sự nỗ lực của các anh, lớp vẫn duy trì. Từ đó tôi học được tính kỷ luật, không bỏ buổi tập bất kể nắng mưa, gió bão vì lúc nào các Huấn luyện viên cũng có mặt. Điều thứ hai tôi học được từ anh Khánh là phải biết áp dụng võ thuật vào cuộc sống. Khi ta lao vào công việc hay gặp một thử thách hãy coi đó như một trận đánh và hãy nghĩ cách để chiến thắng.

Đến cuối những năng 1990 lớp ngừng tập vì nhiều lý do. Một phần từ cơ quan quản lý tại địa phương, một phần vì Huấn luyện viên đã học xong phải về Huế, một phần nữa vì thế hệ chúng tôi mới tốt nghiệp đại học, phải lăn vào cuộc sống công việc và gia đình, không có thời gian và chưa đủ năng lực để duy trì lớp. Tuy vậy chúng tôi vẫn mang nhiệt huyết Karate trong người, hàng năm vẫn gặp nhau, giúp đỡ nhau thành công trong cuộc sống. Đến năm 2011, khi thấy đã đủ kiều kiện, anh Nam và sau đó là anh Trung Anh quyết định mở lại lớp. Thế hệ chúng tôi bây giờ đã là U40, U50, đi tập lại một phần là do đã mang dòng máu karate trong người, một phần nữa là nghĩ tới thế hệ tương lai. Hiện phòng tập đã phát triển vững mạnh với các thế hệ võ sinh trong đó có nhiều cặp bố con.

Non thiêng Bạch Mã

Chuyến đi Bạch Mã 2017 là một cơ duyên đối với tôi. Cuối năm 2016, các Phân đường Hà Nội, Đông Anh, Ninh Bình tổ chức thi đai Đen, mời Thầy ra chấm thi và sau đó tổ chức đi Sơn La làm từ thiện. Trong chuyến đi này, Thầy có nói chuyện về Bạch Mã và mời chúng tôi tham gia chuyến đi 2017, Thầy vừa dứt lời thì một loạt cánh tay đã giơ lên xin đăng ký. Cá nhân tôi thì không cần suy nghĩ nhiều vì giống như mọi tín đồ của các tôn giáo, tôi đều muốn hành hương ít nhất một lần trong đời về nơi đất thánh, nơi phát sinh môn phái để hiểu thêm về tinh thần Nghĩa Dũng Karate-Do. Phần nữa tôi cũng muốn được mặc chiếc áo in hình Bạch Mã như một biểu tượng giống như một người đạo Hồi sau khi hành hương đến Mecca sẽ trở thành một Haji.

Chuẩn bị cho chuyến đi, tâm trạng trạng của tôi vừa hồi hộp vừa lo lắng. Vui vì biết đây sẽ là một trải nghiệm lớn trong đời khi được leo núi thiêng với Thầy; lo vì thử thách rất khắc nghiệt, không biết một U50 sống ở thành phố có thể qua được 3 ngày trong rừng hay không; cơ bắp có thể luyện tập được nhưng xương cốt chưa chắc đã chịu nổi… Mọi người trong đoàn cũng cùng suy nghĩ như tôi. Tuy vậy, đã hứa với Thầy sẽ thực hiện và đoàn Hà Nội có mặt đúng ngày quy định.

Đoàn đi máy bay tới Huế muộn vào buổi tối nên được Thầy đặc cách cho tập trung lúc 3h20 để có thêm thời gian nghỉ ngơi. Nhưng chúng tôi quyết định có mặt lúc 3h như các đoàn khác. Đúng 3h30 khởi hành từ Huế, cả đoàn hơn 100 người đi xe tới chân núi Bạch Mã, tập trung làm thủ tục đến khoảng 5 giờ kém thì bắt đầu leo núi. Quy định đưa ra là thầy sẽ đi đầu, các đoàn lần lượt theo sau, đảm bảo trật tự.

Đường đi dốc liên tục, lại đeo balô nặng hơn 10 kg sau lưng, chúng tôi cầm gậy theo sau. Chặng nghỉ đầu tiên, cả đoàn Hà Nội lăn ra thở và phá lên cười khi nghe thông báo mới được 1 km, còn 20 km trước mặt. Mệt nhưng vẫn cố gắng theo thầy vì trước mặt chúng tôi là một ông già đã gần 80, mang balo dẫn đầu đoàn. Đến chặng nghỉ thứ 3 là một thác nước nhỏ, và lần đầu tiên tôi được uống trực tiếp từ suối. Thầy uống trước, cả đoàn hơn 100 người uống, vậy mình cũng uống thôi và cảm nhận được mình đã bắt đầu hòa cùng thiên nhiên Bạch Mã. Đến Km thứ 10 đoàn bắt đầu phân nhóm, một số tụt lại vì bị chuột rút, căng cơ, vì balô quá nặng. Bài học rút là cần chuẩn bị cho chuyến đi này cả về sức khỏe, tinh thần (càng nhiều càng tốt) và trang bị (không thiếu, không thừa). Đường vẫn dốc, không khí có dịu hơn nhưng trời vẫn nắng. Tôi vẫn lết theo Thầy để được chỉ những chỗ đẹp ngắm cảnh và chụp hình. Chúng tôi đi qua những khu biệt thự, vườn rau, chùa miếu, rừng cây, thác nước bên đường. Đến chặng cuối chỉ còn hơn chục người trong nhóm đầu với Thầy. Đi hết đường nhựa tưởng đến nơi thì mọi người bảo vẫn còn 300 m. Tiếp tục đi nhưng mãi không đến; không phải là 300 m mà là 3000 m đường rừng khi đã mệt lả. Cuối cùng chúng tôi đã tới Vọng Hải Đài với quả chuông và tấm bia “Non thiêng Bạch Mã” sừng sững. Tất nhiên là phải chụp một tấm hình trước tấm bia để chứng minh mình đã tới nơi. Sau đó tôi leo lên mái Vọng Hải Đài để ngắm nhìn quần thể thắng cảnh xứ Huế: hồ Truồi, Thiền viện Trúc Lâm, đầm Cầu Hai, phá Tam Giang… Tất cả trải dài đến hết tầm mắt. Tuy nhiên vẫn phải quay lại thực tại vì còn phải ổn định chỗ ngủ và nấu cơm cùng anh em. Tất cả thức ăn mang theo được tập chung lại, ai mang gì thì mang nhưng ăn chung. Chúng tôi phân công công việc: nhóm lo nhóm lửa, nhóm tìm củi khô, nhóm đi lấy nước, tất cả nhịp nhàng như một tổ ong. Và thế là chúng tôi đã có một bữa cơm ngon lành trên đỉnh Bạch Mã.

Buổi tối danh cho chương trình văn nghệ. Đúng 7h lệnh tập trung trong Vọng Hải Đài. Đoàn Hà Nội là khách, được ưu tiên ngồi cạnh Thầy. Tất cả cùng hát và giao lưu như thời sinh viên. Đoàn Hà Nội cũng lên hát, cử đại diện tham gia trò chơi và cuối cùng vinh dự được Thầy đọc tặng một bài thơ. Sau buổi văn nghệ tôi bước ra ngoài trong cái lạnh khủng khiếp ban đêm trên đỉnh Bạch Mã và sững sờ trước những ánh đèn lung linh từ Phá Tam Giang với những ngôi nhà, con thuyền trải dài. Non sông nước mình thật là đẹp.

Ngày hôm sau, sau lễ phong đai, chúng tôi tiếp tục hành quân dọc theo suối Yến qua ngũ hồ. Hành lý đã nhẹ bớt nên quân dung có tươi tỉnh hơn lúc lên nhưng đường rất khó đi. Đây có lẽ là lần đầu tiên tôi thực sự đi trong rừng nhiệt đới, nơi ánh sáng không chiếu tới nơi, xung quanh cây cối mù mịt, cây gai san sát hai bên đường và dưới chân đầy vắt. Có những đoạn cheo leo một bên là suối, một bên vách núi, phải bám 2 tay vào dây để đi. Tuy chậm nhưng cả đoàn vẫn lần lượt qua. Tới đỉnh thác Đỗ Quyên là bắt đầu một thử thách mới. Trước khi đi tôi đã nghe một người bạn (không phải là dân tập võ) chia sẻ là “trót dại tới thác Đỗ Quyên, lúc về phải bò bằng 4 chân”. Có tất cả 689 bậc. Bậc thang rất cao, lại mang đồ nặng trên người nhưng cái chúng tôi được chỉ dẫn cẩn thận; người trước nhắc người sau cái gì cần chú ý, chỗ nào có thể đặt chân hay nắm tay.

Đến thác Đỗ Quyên, chúng tôi quyết định lập trại ngay chân lối đi để tận dụng các bậc thang. Trại được dựng thật chắc để phòng trời mưa. Sau đó là nấu cơm. Tôi xung phong nhận việc rửa bát vì muốn có thêm thời gian chiên ngưỡng con thác hùng vĩ. May nhất cho tôi là gặp được bạn hiền. Chú Quang, một người bạn của Thầy đi cùng đoàn xuống ngồi cạnh tôi cùng ngắm thác. Từ trên cao hơn 300m nước đổ xuống. Bụi nước lấp lánh dưới ánh nắng. Chú nói với tôi rằng đây là chỗ đẹp nhất để ngắm thác do Thầy tìm ra. Do vậy đoạn đường dẫn ra thác được mang tên Thầy. Chúng tôi nói chuyện về những thác nước nổi tiếng trên thế giới và nhất trí là thác nước trước mặt mình là đẹp nhất không chỉ bởi sự vĩ đại hoang sơ của nó và còn vì những nỗ lực chúng tôi đã và bỏ ra để đến được đây và sẽ ở đây một ngày đêm. Chúng tôi nói chuyện đến khi chiều tối, những đám mây lạnh phủ kín dần rừng núi và thác nước. Đêm hôm đó trời mưa. Mọi người bảo không phải là mưa to nhưng cũng đủ ướt những trại không che chắn cẩn thận. Sáng hôm sau chúng tôi dậy sớm trước khi có hiệu lệnh và ra tập trung để chuẩn bị chụp ảnh ở chân thác Đỗ Quyên. Do đến sớm nên đoàn Hà Nội cùng một số ít các bạn khác được cho bám dây xuống chân thác để chụp ảnh ở hàng đầu cùng với Thầy.

Chúng tôi xuống núi bằng ô tô và nhìn lại chặng đường dài mà lúc đi lên với ba-lô trên vai để thấy thực sự mình cũng chẳng phải tay vừa. Chào Bạch Mã và hẹn sẽ có ngày gặp lại.

Chuyến đi này đã cho tôi nhiều điều bổ ích. Trước hết là tình yêu thiên nhiên, hòa mình với thiên nhiên và bảo vệ thiên nhiên. Trước khung cảnh hùng vĩ như vậy ai mà có thể không yêu tổ quốc mình. Sau mỗi lần dỡ trại, chúng tôi đều được yêu cầu dọn dẹp sạch sẽ, để lại nguyên trạng như trước khi đoàn đến, các Huấn luyện viên và Thầy sẽ là người kiểm tra sau cùng. Điều thứ hai tôi học được là tinh thần kỷ luật: chuẩn bị đủ những đồ quy định, tuân thủ quy định, hiệu lệnh của đoàn, sắp xếp hàng ngũ đúng quy định thì sẽ đỡ mất thời gian và chuyến đi được an toàn. Điều thứ ba tôi cảm nhận được là tình huynh đệ trước tiên là giữa các thành viên trong đoàn Hà Nội. Khi đến nơi gần như không có sự phân công, chỉ có liệt kê các đồ vật phải mang, các việc phải làm và các thành viên tự chọn việc phù hợp, đó cũng là sự san sẻ khó khăn trong suốt chặng đường dài. Tiếp đến là tình huynh đệ với các đoàn bạn, những người khi thấy những ngày cuối thức ăn của đoàn Hà Nội không còn dồi dào như ngày đầu đã tặng quà“đoàn khách” những quả bí, hộp thức ăn. Chúng tôi không quên những tình cảm này.

Sau khi làm lễ bế trại tại tổ đường, đoàn Hà Nội xin chào Thầy. Chúng tôi bày tỏ mong muốn sẽ được thăm lại Bạch Mã trong những năm tới vào dịp thi của lứa đai đen tiếp theo. Từ nay đến đó, còn nhiều ngọn núi thiêng miền Bắc sẽ chờ đợi chúng tôi. Tam Đảo, Ba Vì, Tây Thiên..., chúng tôi sẽ tới để sống lại kỷ niệm này, để cùng khám phá thiên nhiên trong tình huynh đệ. Cá nhân tôi tạt qua cửa hàng võ phục ở bên cạnh và mua một chiếc áo có in hình Bạch Mã. Đây là chiến tích của tôi. Tôi đã xứng đáng được mặc chiếc áo này.
                                                                                                               Hà Nội ngày 8 tháng 7 năm 2017


            

 Luận văn thu hoạch

 
 1   2   3   4   5  > >>

  Trước    In trang