Trang chủ : Tư liệu
Hành trình Không Thủ (Phần I))

      
Nguyễn Quỳnh Phương
(Huyền đai Bạch Mã 2014)


Khéo... đụng những vì sao!


Buổi đầu đến với Karate

Khác với bạn bè cùng trang lứa, khi ở cái tuổi ăn chưa no, lo chưa tới thì năm 2009 tôi đã phải khăn gói vào Huế học cấp 3. May mắn cho tôi là được học tập và trải qua quãng đời học sinh tại trường Quốc Học. Lúc đầu vào Huế, tôi đã rất hoang mang, sợ không làm quen được với Huế, sợ không có bạn bè bên cạnh, và điều tôi lo sợ nhất là không còn được ở cạnh ba mẹ. Một năm đầu trôi qua, tốt đẹp và êm ả so với tưởng tượng của tôi, tuy nhiên tôi vẫn chưa kiếm tìm được điều gì thật sự là đam mê. Thế rồi, tôi đến với Karate như một cái duyên tiền định.

Bước vào sân tập, tôi chẳng quen ai. Tới giờ vào tập, tất cả mọi người đều khoác lên mình bộ kimono trắng toát, vừa mạnh mẽ vừa mềm mại; đai trắng, nâu, đen, cho dù khác nhau ở cấp bậc, nhưng ai cũng toát lên vẻ ung dung, thư thái, đúng như một võ sĩ Nhật Bản thực thụ. Ngắm nhìn mọi người, tôi lại càng ao ước được sớm khoác lên mình bộ võ phục đẹp đẽ ấy. Huấn luyện viên đầu tiên của tôi là Duy, bằng tuổi tôi. Lúc đầu, cứ thấy ai đai đen chúng tôi đều gọi là thầy. Mấy anh nói chỉ được gọi là anh thôi, thầy thì chỉ có một, đó là thầy Dũng. Như các võ sinh mới khác, chúng tôi bắt đầu với những bài tập cơ bản như chào, đứng tấn, nắm tay, xoay hông… Một anh Huấn luyện viên cảnh giác chúng tôi “Sẽ đau nhức mình mẫy suốt một tuần. Các em cố gắng vượt qua nghe”.

Sau tuần đầu với đôi chân đau nhức, hai tay rã rời, tôi bắt đầu quen dần với những động tác kỹ thuật. Tôi cũng bắt đầu làm quen với các bạn trong lớp: thằng Phở, Hưng Rọm, Thông, Đức, Hào, Thế, Phùng, chị Gấm, Nga, Vy… Con bạn cùng đi tập với tôi đã nghỉ, buồn một chút, nhưng rồi tôi nêu quyết tâm sẽ đeo đuổi cho đến cùng. Trong gia đình, mẹ thì nói con gái con lứa tập võ làm gì cho thô ra, ba thì khuyên nên đi tập cho khỏe, lại có ích nữa. Về khoản này thì ba bao giờ cũng uy tín hơn mẹ, thế là tối có chỗ dựa vững vàng. Cứ nghĩ rồi sẽ có ngày được mang đai đen, được leo lên đỉnh Bạch Mã cùng huynh đệ là tôi như được tiếp thêm sức mạnh. Trong lớp, tôi là võ sinh chuyên cần nhất, và các kỳ thi lên cấp tôi đều vượt qua dễ dàng.

Số 8 Trương Định

Tôi ngày càng chăm chỉ tập luyện hơn, quen được nhiều anh em hơn. Sau khi tập được mấy tháng, chị Linh đã là đai nâu tự nhiên thông báo nghỉ tập và lập gia đình. Khi nghe tin, mấy anh em ai cũng tiếc vì chị Linh tập đã lâu, lại rất chăm chỉ và tập cũng rất tốt, nhưng rồi ai nấy cũng tôn trọng quyết định của chị. Kể từ lúc chị Linh không đi tập nữa, tôi dần hiểu rằng, võ làm con người xa lạ trở nên thân thiết nhau, gần gũi, yêu quý nhau hơn. Chị Linh không còn đi tập làm ai cũng có cảm giác tiếc nuối và tất nhiên có nhớ nhung nữa, tập chung với nhau mấy năm trời, như tôi thì mới tập chung với chị có vài tháng mà đã thấy luyến tiếc rất nhiều rồi.

Giống như chị Linh, nhiều người tới tập rồi cũng bỏ đi không quay lại, dường như người ta không tìm thấy được tình yêu, tình anh em như tôi cảm nhận được. Đối với tôi, càng tập tôi càng tìm thấy niềm vui, niềm đam mê, mỗi buổi chiều tôi lại háo hức bãi học thật nhanh, thay đồ thật nhanh để tới sân tập. Nhưng rồi cũng có nhiều người tới sân tập và dường như họ cũng có chung cảm giác như tôi, anh em tôi quen ngày càng nhiều, khóa tập chung với tôi cũng dần đông lên, Khánh, Gấm, Thế, Khoa, Nhân, Thông, Đức, Hào…

Thầy Nguyễn Văn Dũng và những bài học võ đạo

Tôi tập tại sân Trương Định cũng được gần một năm, cũng được gặp thầy rất nhiều lần. Mỗi lần gặp mặt võ sinh thầy lại ân cần dặn dò từ chuyện võ thuật đến võ đạo. Những câu nói của thầy đến nay vẫn còn in sâu trong trí nhớ của tôi. Tôi vẫn còn nhớ rằng: “Người học võ phải sống cho trọn ba chữ: trung, hiếu, nghĩa. Trung là trung với nước, hiếu là có hiếu với cha mẹ, nghĩa là tình nghĩa với anh em, bạn bè với những người đã giúp đỡ, gần gũi bên cuộc đời ta. Các em phải làm trọn được ba chữ đó mới thấy được cuộc đời mình sống thực sự ý nghĩa”. Đó chính là lời dặn của thầy mà tôi thấy tâm đắc nhất, ý nghĩa nhất và có sức ảnh hưởng nhất tới suy nghĩ sau này của tôi. Những chuyện nhỏ nhặt nhất được thầy nhắc nhở thường xuyên với võ sinh, như chuyện cách chào thế nào cho đúng với cốt cách của con nhà võ, cách giải quyết công việc sao cho nhẹ nhàng và thấu đáo, cách giúp đỡ người xung quanh sao không để tổn thương họ…tất cả thể hiện tinh thần võ sĩ đạo, can trường, vị tha, điềm tĩnh, ân cần. Trong một quyển sách của thầy, tôi đọc được những dòng sau “Một cái Tâm tĩnh lặng như nước. Một cái Thần trong sáng như trăng”. Ngay từ lần đầu đọc được, tôi đã rất ấn tượng với ý tứ mà người viết gửi gắm bên trong. Với võ thuật, ngoài quyền cước, đấu đá người học muốn thể hiện cái thần thái của môn võ cũng cần phải hội đủ cái khí, cái thần, cái tâm mỗi lần ra đòn.

Đọc lịch sử Hệ phái và phân đường Nghĩa Dũng tôi mới thấy được tâm huyết của các bậc tiên sư dành cho Karate-Do, và tâm huyết của thầy dành cho võ đường. Đặc biệt là phù hiệu của phân đường và ý nghĩa của Nghĩa Dũng, Nghĩa là tôn chỉ của phân đường, bao gồm Đức nhân ái, lòng trung thành, trọng danh dự, tinh thần trách nhiệm, công minh chính trực, bao dung cao thượng, Dũng là tên thầy đã sáng lập, cũng có ý chỉ sức mạnh, niềm tin, khí tiết. Phù hiệu gồm hình tròn màu trắng tượng trưng cho trăng, hình vuông màu đỏ tượng trưng cho mặt trời. “Mục đích sau cùng của quá trình rèn luyện, tu dưỡng là: Thân dẻo dai cường kiện, Trí sáng ngời nhật nguyệt, Tâm tĩnh lặng vô ưu. Vòng tròn và hình vuông mang thông điệp: sống vuông tròn, có thuỷ có chung. Phù hiệu được thiết kế theo dạng hình thoi, thể hiện tư tưởng: Thiên - Địa - Nhân.” . Ngay từ phù hiệu và tên gọi cũng đã toát lên được cái hồn, cái thần, và cũng từ đây, giúp các môn sinh hiểu được tinh thần của một môn đồ Karate-Do, môn đồ của Nghĩa Dũng đường.

Tập được gần một năm thì tôi được thi lên đai Xanh. Đây là lần đầu tiên thi mà có thầy chấm, anh chị huấn luyện khủng bố tinh thần chúng tôi rằng “Tuy thầy hiền mà khi thầy chấm thi lại rất nghiêm khắc, bọn bây mà không lanh lẹ, nhanh chân nhanh tay là coi chừng bị thầy la đó, mà khi bị la thì chỉ có nước sợ chết thôi. Coi lo liệu mà chuẩn bị kỹ lưỡng vô, tinh thần vững vàng, quyền rớt là bây coi như xong”. Nghe mấy anh chị dặn tôi cũng phát lo, và đúng như lời đã nói, đến ngày thi có một con bé bị thầy la sợ rét luôn, may tôi vẫn giữ được bình tĩnh và hoàn thành bài thi của mình, dù kết quả không cao lắm. Đây là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với một kỳ thi lên đai thực sự, và đã hiểu được những điều cần có trong những lần đi quyền, những bài tập thể lực mà anh chị đã dạy là quan trọng như thế nào. Tôi vẫn nhớ rõ những ngày đông lạnh giá, nhưng sân tập vẫn rất nóng, anh em ai nấy toát hết mồ hôi hột, có mấy anh mồ hôi bốc thành hơi trên đỉnh đầu, nhìn ai cũng hăng say tập luyện lại càng khiến cái ý chí của tôi thêm sôi sục. Sau khi tập một thời gian cũng khá dài, anh Thành giao cho tôi làm thủ quỹ. Dù chỉ là công việc đơn giản nhưng nó lại có tác động mạnh đến tôi. Cái cảm giác được tin tưởng giao cho một nhiệm vụ, được gặp gỡ anh em mỗi ngày và nhắc nhở nộp tiền đúng hạn cũng làm tôi vui thấy lạ, phải tới sớm mượn cô cái xô đỏ và chạy đi mua đá cho cả sân uống nước, phải về cuối cùng để thu tiền những ai nộp trễ, được điểm danh và chuẩn bị danh sách thi cho tháng tới…tất cả thân thương và giản đơn biết nhường nào. Tôi ước những ngày tháng ấy sẽ mãi không phai nhạt mai sau.

Biến cố xảy ra

Sân Trương Định, tôi cứ ngỡ sẽ là sân tập cố định, cũng được gần khoảng 1 năm thì đột nhiên thầy thông báo là sẽ xây nhà cho nên sân tập này sẽ tạm thời chuyển qua sân Quốc Học và sân Hai Bà Trưng. Ôi, chuyện gì thế này, đang yên lành, nay phải chuyển qua sân tập mới, mà lại phải chia ra một bên Quốc Học, bên Hai Bà Trưng nữa. Được tập ngay tại nhà thầy, ngay tại phân đường, cái cảm giác tập khác hẳn với những sân khác, đứa nào cũng chung cảm giác này với tôi, vì mỗi ngày tập được gặp thầy, được đứng trước bàn thờ tổ, trước cái không gian nhỏ bé nhưng lại toát lên một khí chất cao ngút, ai ai cũng chăm chỉ, cũng thấy tự hào khi được đứng nơi đây. Cảm giác hụt hẫng và nuối tiếc đến nay vẫn ngập tràn trong tôi mỗi lần nhớ lại ngôi nhà nhỏ bé, cũ kỹ đó, không hiểu sao hồi ấy lại có thể tập chung mấy chục người trong một căn phòng bé vậy nhỉ. Tôi ước mong lại được tập trong căn phòng ấy thêm lần nữa, được hét to Kiai và chào tập mỗi buổi chiều, sẽ được cô cho mượn cái xô đỏ, xách ra quán tạp hóa mua 2 ngàn đá và bơm nước lạnh vào cho anh em uống, ôi cái xúc cảm quá khứ đơn sơ mà đẹp biết bao.

Đến ngày chuyển sân, qua sân tập mới, lại gặp thêm nhiều người mới, tuy nhiên chung sân tập là một vấn đề khó khăn cho cả 2 câu lạc bộ, vì khi có thêm võ sinh mới thì sẽ không biết phải bố trí như thế nào, cho nên anh Thiện và anh Thành đã giải quyết việc chiêu sinh theo tháng. Tháng đầu là chiêu sinh cho CLB Quốc Học và Hai Bà Trưng, tháng sau là tới CLB chúng tôi. Việc tập chung cũng không đơn giản, vì thêm người là phải thêm chỗ tập, tuy nhiên cả 2 huấn luyện viên cũng đều giải quyết ổn thỏa. Tập được gần hai tháng, thầy lại có quyết định chuyển CLB chúng tôi qua 1 Lê Lợi, lại thêm một lần khó khăn nữa trước mắt anh em chúng tôi, tình hình CLB lại chuyển sang giai đoạn khác và càng lúc càng tệ hơn.

1 Lê Lợi

Sau một thời gian không phải là quá dài, gần 2 tháng kể từ ngày rời Trương Định, lại qua một lần chuyển sân, anh em nhiều người không biết nên sân tập cũng vơi đi ít nhiều, những người đã tập lâu, đã gắn bó với CLB thì còn theo tập, số còn lại mới tập hoặc nghỉ tập đã lâu thì có thể vì lý do cá nhân, vì không biết việc chuyển sân mà không còn thấy tới sân nữa. Có lúc có tới 7 huấn luyện viên mà chỉ có 6 võ sinh tập, cái không khí ảm đạm của ngày mưa Huế hôm đó tôi còn nhớ như in. Hôm đó là ngày trời mưa to nên nhiều người sinh lười nhác không đi tập cho nên mới chỉ có 6 võ sinh, còn huấn luyện viên thì vẫn miệt mài mà có 7 người. Anh em hôm đó tập không khí cảm thấy rất nặng nề, có lẽ đó chính là ngày tập buồn nhất từ trước đến nay. Tuy không ai nói, không ai tỏ ra mặt nhưng trong thâm tâm mỗi người đều có một nỗi buồn, cũng có một sự trách cứ những người đã không hề chăm chỉ, không hề đáp lại sự nhiệt tình đặc biệt là với các anh huấn luyện viên. Những ngày tháng sau đó cũng ít người tập, ở sân 1 Lê Lợi, nếu trời mưa thì chỉ có một khoảng sân nhỏ để tập nên ai cũng rất ngại trời mưa. Anh Thành đã rất tâm huyết, nhắc nhở võ sinh đi tập chăm chỉ mỗi ngày, 6 ngày trong tuần anh và các anh khác đều tới sân huấn luyện thường xuyên, thế nhưng võ sinh cứ mỗi ngày lại vơi đi, cái không khí nặng nề đè nặng lên những người ở lại. Tiền thuê sân tập thì không thể trả đủ với số lượng võ sinh ít ỏi như thế, sân tập thì lại nằm quá sâu nên ít người biết đến, chiêu sinh thì cũng khó khăn khi mà võ sinh đương tập lại quá ít, thời tiết mưa nắng thất thường. Mọi khó khăn như dồn hết lên những đôi vai kia. Đến một ngày thầy cũng quyết định điều anh Đa qua phụ trách sân tập 2,4,6 cho anh Thành. Anh Đa qua tập được đúng một buổi và cũng chỉ có không quá 10 đứa chúng tôi hay đi tập. Tình hình dường như không thể cứu vãn nên thầy đã cho giải thể sân 2,4,6 và chỉ yêu cầu tập trung cho sân 3,5,7. Từ đó tôi chỉ còn được tập 3 buổi một tuần thôi. Nhiều anh cũng đã đủ tiêu chuẩn thi huyền đai, tuy nhiên thi xong các anh lại mỗi người một ngả, chị Ngọc Anh, chị Gấm, chị Hậu, anh Phong, anh Khiên bận việc học hành, gia đình cũng nghỉ tập dần. Sân tập cứ thế lạnh lẽo hết một mùa mưa Huế. Nhưng không vì thế anh em còn lại lại không cố gắng để duy trì, mọi người vẫn vui vẻ và động viên nhau đi tập đầy đủ, chiêu sinh khóa mới.

Rồi những tháng ngày ấy cũng qua…

Sự cố gắng của anh em cũng được đền đáp, những anh học Y khoa bắt đầu tới sân tập, 1 anh, 2 anh…dần dần các anh kêu gọi thêm bạn đi tập, Thế cũng gọi thêm bạn của nó đi tập, gom lại cũng chiêu sinh được lớp mới phải gần 20 người, sân tập nay trắng, xanh, nâu, đen đều đông đủ cả, cũng gần 30 người. đối với các sân khác đó là một con số ít ỏi, nhưng với sự khởi đầu mới đối với chúng tôi là rất vui mừng rồi. 1 tháng, 2 tháng sau, sân tập đông lên trông thấy, những góc sân nay đã vang to tiếng Kiai, mỗi lần khởi động mấy chục người lại hì hục chạy cả 7,8 vòng sân, lại dục nhau “cố lên”, anh Trí mà cho khởi động thì y như rằng “một vòng nữa thôi mấy đứa ơi” trong khi đã 7, 8 vòng sân rồi. Ngày cuối tuần sẽ được chọn là ngày đấu hoặc đá banh. Vui nhất là xuống sân dưới đá banh, cả nam, nữ, con nít, thiếu niên, chia ra hai phe đeo đai và không đeo đai, cứ thế lao xuống đá không một luật lệ nào cả, chỉ cần vào lưới là được. Cũng may sân 1 Lê Lợi có 1 sân đá banh cực kỳ lý tưởng, nhìn được ra dòng Hương hiền dịu, nhìn qua tận Cột cờ với những cánh diều bé nhỏ của tụi trẻ con. Anh em kẻ đá, người hét, làm ầm lên cả một góc bãi bờ, những bộ kimono trắng lấm cả bụi cát, đá xong ai cũng ướt đẫm mồ hôi, mệt lắm nhưng vẫn cười rất sảng khoái, lại hẹn nhau “hay vô đi thêm bài quyền nữa rồi về bây hè”, thế là lại hét vang tên bài quyền, tiếng Kiai giữa bóng chiều ngả dần sau lùm cây.

Thấm thoát mấy tháng trôi qua, tôi đã vào năm học cuối cấp, áp lực dần đè nặng lên đôi vai. Ba mẹ mỗi lần ở quê điện vào lại dặn “hay con nghỉ tập để ôn thi thôi, vài bữa thi xong ba cho tập tiếp”, nhưng nhất định tôi không thể nghỉ tập được vì gần thi lên đai nâu rồi, ai lại nghỉ giữa chừng được. Tôi phải thuyết phục ba mẹ rất nhiều, dù sao giờ tập cũng chỉ có một tiếng rưỡi, coi như rèn luyện thân thể, lại được giải trí, thư giãn đầu óc sau giờ học, mà mấy lý do đó chỉ là phụ thôi, chủ yếu là gặp anh em mỗi chiều, được Kiai, đi quyền, được gặp mấy đứa nhỏ dễ thương, được thu tiền quỹ, chạy đi mua nước cho sân tập uống, đơn giản như vậy là đã quá vui rồi. Tôi cứ cố gắng rồi cũng đến ngày thi đai nâu, ôi mừng hết biết luôn! Trước ngày thi, tôi được chị Trân, anh Thành, anh Trí, Tuấn huấn luyện rất kỹ càng, người thì ôn quyền, người ôn đấu, tôi được chỉ dạy từng li, từng tí một, cách Kiai như thế nào cho vang, cho có khí chất, hơi thở ra sao, cách quắc mắt, cách giữ sức khi đấu, công phá. Cùng khóa với tôi có anh Hên, Thế, Khánh, chị Vy, cả 5 người đều được huấn luyện kỹ lưỡng. Mỗi ngày chúng tôi đều đến sớm, chạy bộ, đi tất cả các bài quyền, tập đấu, cứ thế đến trước ngày thi, năng lực đã rõ rệt lên trông thấy. Và tất nhiên anh Thành cũng tổ chức một buổi thi thử trước khi tiến hành thi chính thức. Đó là một ngày đông trước tết nguyên đán, chúng tôi đã sẵn sang cả tinh thần và kiến thức cho buổi thi.

Do đã trải qua kỳ thi Xanh cho nên việc chuẩn bị vào thi, sắp hàng chụp ảnh không còn xa lạ nữa, chỉ cần đủ tinh thần để thi tốt mà thôi. Chị Trân nói tôi đi quyền tốt và Kiai rất vang, nên tôi cũng có phần tự tin và đi quyền rất bình tĩnh. Khi đấu tôi cũng rất tự tin, dù thua hay thắng cái cốt yếu là tinh thần của mình, không lùi bước, và tuân thủ đúng luật là được. Năm ấy không có công phá, tôi khá hụt hẫng chút xíu vì cũng muốn thử xem sức mình đến đâu. Vài ngày sau ngày thi, kết quả anh Thành đưa về thì tôi và anh Hên được thủ khoa. Cảm xúc lúc đó quả thật rất rất hạnh phúc và sung sướng khi công sức tập luyện bao ngày đã được đền đáp xứng đáng. Tôi đạt điểm cao nhất ở quyền hiện đại, anh Hên đạt cao nhất ở quyền cố, anh Thành đã rất tự hào khi hai đứa học trò của mình đạt điểm cao. Tôi đã không nghĩ rằng kết quả lại cao như vậy, và chắc chắn thủ khoa sẽ được dự lễ tất niên ở nhà thầy. Đó cũng là điều làm tôi thấy hối hận nhất cho tới bây giờ. Hồi ấy cứ được nhà trường cho nghỉ tết, tôi lại chạy ngay về nhà, năm ấy cũng vậy, còn trẻ quá nên cứ muốn về nhà trước, nhớ ba, nhớ mẹ, nhớ em nên không nghĩ rằng sẽ không còn dịp được dự lễ tất niên với thầy và anh em nữa. Không biết đến khi nào mới có dịp được ngồi cùng mọi người ngày giáp tết đây.

Tôi đã vượt qua rào cản “Đại học” như thế nào.

Thi xong đai Nâu, về nghỉ tết, ba mẹ lại giục tôi nghỉ tập võ. Tất cả mọi người chứ không kể ba mẹ đều nói vậy “Thi đại học đến nơi, học không lo, lo võ vẽ cho lắm vô” hoặc kiểu như “con gái học võ chi rứa, không cưới được chồng mô”. Tại sao mọi người lại có những suy nghĩ đơn giản, một chiều như vậy. Học võ có gì sai, ai bảo học võ là rớt đại học, học võ là ế chồng? Chỉ có những người lười vận động mới suy nghĩ tiêu cực như vậy, tôi đã suy nghĩ như thế mà kiên trì tới cùng. Đây cũng là lúc tôi được phụ tá lớp đai trắng, sau này còn được đứng lớp mới và huấn luyện hẳn hoi, cảm giác được huấn luyện và truyền đạt lại kinh nghiệm rất thú vị và có chút tự hào vì bản thân đã được tin tưởng giao cho nhiệm vụ quan trọng như vậy. Nhưng ngoài những tháng ngày vui vẻ đó, khó khăn không dừng lại mà càng ngày áp lực càng căng thẳng, nặng nề, khi mà hồ sơ thi Học viện an ninh của tôi bị “người ta” từ chối một cách thẳng thừng với lý do “không có diện” cho dù tôi học Quốc học, học lực giỏi, hành kiểm tốt trong khi “con người ta” thì cứ tầm tầm trung bình khá. Có những lần tôi cứ chạy Huế - Quảng Bình liên tục để làm hồ sơ, bỏ cả học, tốn biết bao nhiêu tiền bạc của ba mẹ, vậy mà ước mơ bao lâu nay tôi ấp ủ bị dập tắt một cách phũ phàng. Mất phương hướng, mất đi ước mơ, hy vọng, mục đích học, quyết tâm, mất tất cả, tôi chới với, mông lung. Cũng may kịp làm thêm hồ sơ kinh tế Đà Nẵng, nếu không tôi đã uổng phí 12 năm ăn học, bởi vậy mới biết cuộc đời có quá nhiều loại người gian xảo, ác độc, và học cần lực mấy cũng chỉ là hạng chót xã hội mà thôi. Anh em ở sân tập, thầy cô, bạn bè cũng an ủi tôi rất nhiều. Trong một tháng trời tôi như buông xuôi, không buồn học hành gì nữa, đêm lại ôm gối khóc, đó là những ngày đen tối nhất cuộc đời tôi. Nhưng khóc cũng làm được gì, ba mẹ động viên tôi “có khi con học kinh tế mà lại làm nên cơm cháo, cố gắng đi con” rồi lại quyết tâm học cho cuộc đời mình thoát khỏi nghèo khó, cho xã hội bớt đi những người không liêm chính, thôi thì kinh tế, có sao đâu, tôi mới vực dậy được. Và không chỉ quyết tâm, nhờ võ, nhờ mỗi chiều tập giải tỏa stress, tôi mới thấy tinh thần thoải mái hơn nhiều. Mỗi khi kiai, tiếng vang như giải phóng hết bực bội trong lòng, thấy thanh thản và yên bình đến lạ. Khi khoác lên bộ kimono trắng, võ khiến tôi được là chính mình, không lo toan, bực dọc, không căng thẳng, không phải lo nghĩ đến tương lại phía trước. Cứ thế đòn tiếp đòn, bao nhiêu suy tư như tan biến hết. Tháng 5 Huế nóng rực, và lòng tôi cũng rạo rực cho ngày thi đại học không kém, tôi đã đi đến quyết định tạm nghỉ tập và dành hai tháng còn lại cho việc ôn tập, mặc dù rất tiếc nuối. Tôi tới gặp anh Thành, anh Thành đã khuyên tôi rất lâu “Em tập tới đai nâu rồi, ai mà lại nghỉ tập giữa chừng, dù thi đại học thì mình cũng coi như là rèn luyện thân thể, mấy bữa cũng rứa mà giờ nghỉ chi nữa, cố gắng đi tập cho vui vẻ chớ”. Tôi cũng rất hiểu ý anh, và tất nhiên là tôi vẫn rất tiếc nuối, nhưng mà cái đam mê cứ lôi cuốn tôi mạnh mẽ quá và không thể cưỡng lại được, tôi vẫn tiếp tục tập luyện cho tới ngày về quê chuẩn bị thi đại học.

Thế là tôi đã tập được hai năm, và được nhận hai cái học bổng “văn hay võ giỏi” của thầy trao cho học sinh Quốc Học. Càng dần tới ngày thi đại học, tôi lại càng nhận ra rằng mình sắp phải xa một miền đất đã gắn bó ba năm với bạn bè  trường lớp và huynh đệ Karate-Do. Tôi vẫn nhớ một câu thơ trong “Tiếng hát con tàu” của nhà thơ Chế Lan Viên: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở. Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”. Quả thật những vần thơ ấy đã diễn tả hết tâm trạng của tôi lúc sắp xa Huế. Đúng như lời thơ của Chế Lan Viên, khi rời xa mảnh đất bấy lâu gắn bỏ, con người ta không hay rằng mảnh đất ấy đã âm thầm xâm chiếm lấy một mảnh tâm hồn của ta, hóa thành nơi thân thương như nơi chôn rau cắt rốn. Khi mới chập chững bước chân vào Huế, tôi không hề nghĩ rằng Huế lại có nhiều thứ khiến tôi phải suy nghĩ, vấn vương nhiều như vậy. Ngôi trường hồng bên sông Hương nơi tuổi học trò đầy mộng mơ và hoài bão, nơi tà áo dài tôi sải bước dưới rặng cây Điệp Anh Đào, nơi bạn bè rủ nhau đá cầu, nhảy dây, nơi bờ rào mỗi ngày chúng tôi trốn giám thị mua bánh mỳ sáng, nơi sân vận động, nhà thi đấu đầy ắp tiếng cười và cả những giọt mồ hôi, phòng học số 7 thân yêu như ngôi nhà thứ hai của 39 đứa học trò, bục giảng vang tiếng thầy cô mỗi ngày. Những góc phố, con hẻm in dấu chiếc xe đạp cũ nát của tôi và tụi bạn, hàng cây Lê Lợi rợp bóng mỗi buổi chiều nắng, dòng Hương lấp loáng những vệt sáng, mặt nước êm ả tựa mặt hồ, phản chiếu bãi bờ như một tấm gương in hình bóng dáng xưa cũ của Huế. Thế kỷ 21 nhưng Huế hầu như không mất đi vẻ cố kính xưa nay vốn có, cho nên con người cũng hết sức Huế, rất thân thiện và cư xử đúng mực của một người con cố đố, không xô bồ, vồ vập như những thành phố khác. Cho nên được tiếp xúc với họ, tôi cũng bị ảnh hưởng ít nhiều, tất nhiên là theo chiều hướng rất tốt. Và võ cũng vậy, đã làm thay đổi con người tôi rất nhiều, nhìn mọi thứ xung quanh linh hoạt và cởi mở hơn, cũng là một phần của Huế tôi không muốn rời xa. Sau khi thi đại học xong, có lẽ tôi sẽ vào Đà Nẵng, sẽ phải xa anh em, xa sân tập, có thể sẽ không bao giờ gặp lại những con người thân thuộc trước đây, sẽ không còn đứng chung một sân tập và hét lớn Kiai, không được thu tiền mọi người, không còn được mua nước cho mọi người uống, không còn được mặc bộ kimono một thời gian, không còn được đi quyền trên nền sân bổng rát, và đến khi nào mới được khoác ba lô lên đỉnh Bạch Mã cùng thầy.

Cứ nghĩ đến ngày phải thực sự xa Huế lại khiến tôi lo sợ. Và rồi cái ngày đó cũng tới, mùng 6/7/2012 tôi chính thức rời khỏi Huế, chuẩn bị hành trang cho kỳ thi đại học đầy thử thách trước mắt. Tôi phải tạm biệt anh em và hẹn rằng một ngày không xa sẽ gặp lại, sẽ cố gắng tiếp tục theo đuổi đam mê và khoác ba lô lên đỉnh Bạch Mã. Như vậy tôi kết thúc hai năm gắn bó cùng huynh đệ, hai năm với biết bao nhiêu kỷ niệm, hai năm cùng nhau vượt qua bao nhiêu khó khăn, rào cản. Cảm ơn tất cả, cảm ơn đã cho tôi hai năm đẹp tuyệt vời, được theo đuổi và thực hiện đam mê, được đổ mồ hôi trên sân tập và sống trong tình anh em, thầy trò quá đỗi thân thương. Nếu có ai đó hỏi tôi nuối tiếc gì nhất khi phải đi khỏi Huế, tôi sẽ nói rằng, tôi nuối tiếc ba năm học trò và hai năm đã được gắn bó cùng Karate-Do. Một lần nữa cảm ơn!

Một năm rưởi tạm dừng đam mê

Tháng 8/2012, tôi lại phải bắt đầu một cuộc sống mới nơi xa lạ, Đà Nẵng nắng vàng và biển xanh, tươi trẻ, đẹp thế, năng động thế nhưng tôi chưa thấy vui, chưa tìm được chính con người tôi nơi đây. Tôi vẫn đang vương vấn Huế quá nhiều, vương vấn những tháng ngày tươi đẹp ấy quá nhiều, Đà Nẵng nắng quá, không xanh mượt mà như Huế, Đà Nẵng cũng vội vã quá khiến tôi hơi choáng ngợp. Tôi nhớ những chiều đạp xe dưới tán lá rộng, nhớ con người dễ thương hiền dịu, nhớ trường lớp và nhớ cả anh em nữa. Đà Nẵng với Huế chỉ cách nhau một con đèo nhưng sao khó khăn quá, đời sinh viên, ăn còn chưa đủ huống chi đi vô đi ra. Mới những ngày đầu ở Đà Nẵng , tôi nhớ Karate-Do, nhớ lắm bài quyền, tôi đã liên lạc ngay với thầy Dũng xin số điện thoại sân tập ở đây và tôi còn hứa với thầy rằng tôi sẽ khoác ba lô lên Bạch Mã với thầy vào mùa hè năm sau, không biết thầy còn nhớ không.

Tôi xin tập ở sân ĐH kiến trúc cách nhà tôi gần 5 km. Ngày đầu đi tập lại tôi rạo rực, hồ hởi như đứa trẻ được mẹ dẫn đi chơi, hì hục đạp xe gần 5 km, qua cây cầu Tiên Sơn gió quật có lúc muốn bay luôn cả người và xe. Sau hôm ấy, ý chí tôi tụt dốc một cách kinh khủng, 5 km thì không hề hấn gì mà vì cây cầu đầy gió ấy. Tôi của ngày xưa nay đâu rồi, nhớ những ngày tập đấu về mình mẩn thâm tím hết vẫn không bỏ một buổi tập nào, sao giờ đây lại nhanh chóng buông xuôi như vậy. Nhưng rồi, cơn mệt đã thắng, cộng với việc bận rộn buổi chiều để chuẩn bị cho ngày đón Tân sinh viên, tôi buông thả lúc nào không hay. Những ngày tháng sau này, tôi có tham gia đội thể thao của trường, cũng phải luyện tập rất nhiều cho giải đấu đó cho nên chuyện đi tập lại đã bị bỏ quên mất gần một năm. Bây giờ nhớ lại, tôi thấy hối tiếc một năm đã qua, đã hứa sẽ leo đỉnh Bạch Mã nhưng lại không giữ lời hứa, sao xứng là môn đồ Karate-Do đây. Cuộc sống đưa đẩy là một phần, một phần cũng do con người ta không cố gắng để rồi lại phải tiếc nuối ngậm ngùi những ngày tháng đã qua. Tuy không có Karate-Do, nhưng tôi lại tìm được thêm một môn thể thao khiến tôi đam mê khi tập, và tìm được thêm những đứa bạn mới mà sau này chúng nó đã cùng tôi vượt qua hai năm đầu đại học.

Sau tết, tôi lại có ý định nung nấu thi lại học viện an ninh, tôi vùi đầu vào học, vừa học bài vở trên giảng đường, vừa ôn lại kiến thức cấp 3, lại một lần nữa lại có thêm rào cản tôi thực hiện tiếp đam mê với Karate-Do. Học hành quá căng thẳng, tôi không còn suy nghĩ gì thêm nhiều nữa, chỉ mong muốn được hoàn thành cái ước mơ làm công an. Nhưng may thay, tôi đã được về Huế một tháng để ôn thi đại học, trong quá trình ôn đó, tôi tìm lại anh em cũ và hay tin mọi người đã chuyển qua sân tập mới là 51 Huỳnh Thúc Kháng. Tìm đến 51 Huỳnh Thúc Kháng, tôi như nhảy cẫng lên khi được gặp lại mọi người sau một năm xa cách, mới có, cũ có nhưng cũng đã bỏ nhiều. Anh Thành cũng rất vui khi gặp lại tôi và kêu tôi bữa sau đi tập lại cho vui, tất nhiên tôi đồng ý liền. Sau một năm tôi lại được tập chung cùng mọi người, mặc dù chỉ có chưa đầy một tháng ngắn ngủi. Ngay ngày đầu tập lại, anh Thành đã giới thiệu tôi với võ sinh “Đây là chị Phương, chị tập được 2 năm thì vào Đà Nẵng học đại học, nay ra ôn thi lại công an cho nên đi tập lại. Chị Phương ni là hồi xưa siêng nhất sân tập đó nghe, không bao giờ nghỉ tập trừ trường hợp ra quê thôi, đến khi thi đại học mà vẫn còn đi tập đây này, bữa thi nâu là chị ni thủ khoa nữa nì, Phương mô đứng dậy cho anh em biết mặt coi”, nghe anh Thành nói những lời đó, lòng tôi cảm thấy sung sướng, tự hào khi tôi trong mắt mọi người là những kỷ niệm đẹp, là đứa võ sinh siêng năng chăm chỉ. Tôi tập gần một tháng và được gặp lại rất nhiều người. Một tháng cũng đủ khiến tôi thấy sung sướng hạnh phúc biết nhường nào. Những cảm xúc xưa lại ùa về đầy ắp trong tôi, tuy đã lâu không tập nhưng tôi vẫn đi quyền rất tốt, như một thói quen, hôm ấy tôi nhận ra rằng võ đã ngấm rất nhiều vào tôi vào những điều bé nhỏ thường ngày nhất của tôi, cho dù xa cách khi đi tập lại vẫn như một năm về trước.

Một lần nữa tôi bước vào kỳ thi đại học trước mắt, nhưng chắc có lẽ không đủ khả năng, với số điểm 23 thì tôi còn thiếu tới 3 điểm, nếu là năm ngoái thì tôi đã chắc chắn đậu rồi. Thôi thì đành kết thúc cái ước mơ tại đây và trở lại Đà Nẵng với kinh tế, hai năm là quá đủ rồi.

Bước vào năm học mới lại bận rộn cho lễ tân sinh viên, chuẩn bị cho những chuyến tình nguyện, cứ thế tôi uổng phí một năm rưỡi với Karate-Do. Nhớ lại nếu tiếp tục sớm hơn có lẽ đã được đi Bạch Mã hè 2013 rồi. Tại sao cứ phải hối tiếc những chuyện chưa làm được, tại sao không thực hiện sớm hơn để hôm nay đừng ngậm ngùi. Một năm rưỡi trôi qua đầy nuối tiếc, tiếc cả ước mơ và đam mê.

Tôi tìm lại chính tôi

Sau tết, tôi trở lại Đà Nẵng với một chiếc xe máy, ngay khi có xe máy, tôi đã quyết định đi tập lại, có xe rồi thì việc đi lại dễ dàng hơn. Anh em trong này cũng rất vui vẻ nhiệt tình, khi mới vào tập lại được một tháng, tôi được anh Thông - huấn luyện viên trưởng CLB Nhà văn hóa lao động Đà Nẵng giao đứng lớp mới. Tuy huấn luyện nhưng tôi vẫn cố gắng tập đấu, đi lại các bài quyền cũ và tập thêm bài mới, hy vọng sẽ kịp dự thi khóa huyền đai 2014. Anh Thành ở ngoài Huế vẫn hay liên lạc với tôi, động viên tôi tập luyện thật chăm chỉ để tháng 6 tới thi đai đen. Được sự động viên của anh Thành, và anh chị em ở Huế cũng rất hay nhắn tin với tôi, giục tôi cố gắng tập luyện nên tôi rất hào hứng, nhớ lại những đứa đai xanh hồi mình còn phụ tá nay cũng đã lên đai nâu  gần thi đen rồi. Thấy vui vì còn những người còn tâm huyết và theo đuổi đến cùng, thấy buồn vì đã bở lỡ một năm rưỡi quá uổng phí. Thôi thì thời gian đã trôi qua, nay phải cố gắng hết sức để tập luyện cho kỳ thi đai đen thật tốt. Tôi chăm chỉ luyện tập, đợi kết thúc xong học kỳ là tức tốc ra Huế ôn luyện một tháng, không phải như hè năm ngoái là ôn văn hóa nữa, mà giờ là ôn luyện võ thuật. Cảm giác hào hứng, phấn khởi khi được gặp lại anh em, sân tập tràn ngập khắp tâm hồn tôi, chỉ mong sao thời gian trôi nhanh để chạy thật nhanh ra Huế. Tôi cũng đã phải ỉ ôi xin ba mẹ rất lâu ba mẹ mới cho phép tôi ở lại Huế một tháng. Đi học xa nghỉ được hai tháng hè mà giờ lại dành hết một tháng ở Huế, tôi cũng thấy thương ba mẹ nhiều lắm.

Ngày 2/6 tôi chạy xe ra Huế và đi tập lại ngay chiều hôm đó. Một phần háo hức tới kỳ thi, một phần được tập với anh em cũ và mới khiến tôi cảm thấy hết sức thoải mái. Một tháng trời chỉ có chuyên tâm tập võ, không phải suy nghĩ đến bài vở, thi cử quả thật là một tháng hiếm có và tươi đẹp từ trước tới nay. Cứ mỗi sáng, chiều 2,4, 6 tôi lại khoác lên mình bộ kimono trắng đến sân tập, rồi lại chuẩn bị sắm sửa đồ đi Bạch Mã. Tôi có đùa với chị Trân rằng “Em mà rớt thì mần răng đây chị, mua đồ về ngắm hè, mà nhục chết đi được”, chị Trân cốc đầu tôi “mi sảng nữa, lo tập cho đậu đi, mi mà không đậu á, ngó rứa chớ không khó lắm mô, công phá thì hoặc tay hoặc gạch, thế nào cũng có một thứ gãy”. Thôi thì cứ phải liều, một tay gãy, hai là gạch gãy. Một tháng tập luyện với anh em cũng đủ cho tôi lượm nhặt được rất nhiều kỷ niệm.

Tập được một tuần thì anh Thành tổ chức đi biển Vinh Hiền, anh nói chỗ đó gần quê thầy. Tôi rất háo hức, thế này thì còn gì bằng, vừa được tập luyện thỏa thích lại còn được đi chơi cùng CLB, đúng là lựa chọn sáng suốt khi trở lại Huế. Thế nhưng tôi hy vọng, háo hức bao nhiêu thì tôi cũng có chút hụt hẫng bấy nhiêu, đã xa anh em tính đến nay là 2 năm, người cũ thì ít mà người mới thì nhiều, nay đã có một chị khác lên thay tôi làm thủ quỹ. Nhớ lại ngày xưa anh Thành cũng tổ chức những buổi đi chơi như thế này, nhưng mà gần hơn, hồi ấy chỉ lên đồi Thiên An thôi, vì tôi là thủ quỹ nên ai cũng Phương, “Phương ơi nộp tiền cái, Phương ơi đi mua nước, Phương coi chuẩn bị đủ đồ ăn cho cả lớp tề, Phương chia chị em ra nấu ăn nghe, Phương coi đứa mô chưa nộp bắt hắn nộp gấp không là anh cho hít đất”. Nay đã có người khác lên thay, không còn ai gọi tên tôi í ới nữa, không còn ai chạy qua chạy lại kêu tôi thu tiền nữa, cảm giác hụt hẫng rất nhiều. Mọi người vẫn vui vẻ, nhưng sao lòng thấy thiếu vắng đi chút gì đó thân thuộc của ngày xưa. Nhưng không sao, chỉ là tôi quá nhạy cảm mà thôi, biển xanh, nắng vàng, cát trắng, mọi người ùa nhau tắm biển rất vui vẻ, chiều lên ai nấy đều cháy đen nhẻm, rồi lại dành nhau đi tắm, xong xuôi cùng ngồi ăn những bát cháo nóng hổi. Những kỷ niệm ấy chỉ có thể có được với Karate-Do mà thôi, thực sự rất quý giá. Trở lại luyện tập, ngày thi càng ngày càng gần kề, hình như tôi đi quyền không còn tốt như xưa nữa, tôi thấy hơi thất vọng đôi chút, nhưng rồi vẫn cố gắng, tập luyện, tập luyện…

22/6/2014 ngày quan trọng

Sáng ngày 22/6, tôi dậy từ lúc 4h30 khởi động sơ qua và đi lại mấy bài quyền, ăn sáng. 6h30, tôi mặc bộ kimono mới sắm ở chị Trân đến sớm trước 30 phút để khởi động trước chuẩn bị tinh thần cho kì thi. Đúng 7 giờ, anh Đa cho xếp hàng  khởi động, chuẩn bị chào tập. Cũng như những kì thi trước, xếp hàng chụp ảnh trước khi bước vào thi là việc không thể thiếu, và cũng không lạ mấy khi một số anh bị thầy la vì khoản chụp ảnh này. Thầy là người có đức tính nhanh nhẹn và tháo vát, việc xếp hàng cỏn con nếu không nhanh, đẹp thì bị thầy la ngay, nhưng xong xuôi thì thầy lại ân cần dặn dò võ sinh chú ý tập trung để hoàn thành tốt bài thi của mình. Tôi là một đứa không mấy sợ thi cử, từ xưa đến nay đã như thế rồi, cộng với việc thầy luôn luôn động viên võ sinh sau mỗi bài thi nên cho nên tinh thần tôi hết sức thoải mái. Nói là bình tĩnh thoải mái nhưng cũng có chút hơi run vì sau quá trình luyện tập qua ba màu đai trắng, xanh, nâu, đây là màu đai cuối cùng rồi, nếu như lần này rớt thì thật sự ngại không trốn vào đâu được, chưa kể anh Thành và mọi người đã rất kỳ vọng vào tôi và năm đứa còn lại. Trong ba phần thi tôi lo lắng nhất là phần công phá vì hồi thi nâu cũng chưa được công phá cho nên không biết đợt thi này sức mình công phá được tới đâu. Tôi ngồi đợi đến phần thi của mình, phần đi quyền đầu tiên diễn ra khá suôn sẻ, ai cũng qua phần thi này và đây cũng là phần thi tôi hy vọng nhất. Mong rằng tôi sẽ đạt điểm cao trong phần thi này. Xong quyền, tôi đi xuống phía dưới thực hiện công phá “một là tay gãy, hai là gạch gãy”, suy nghĩ như thế mà nện xuống lớp gạch là được. “Nhưng mà, ôi gạch chi mà dày cộm ri, bể làm răng được, thôi thì liều cho rồi” tôi thầm nghĩ. KIAI thật to, tay phải tôi công phá được 3 viên, như vậy cũng đã tốt lắm rồi, qua tay trái cũng kiai to không kém nhưng lại được 1 viên, tổng cộng 4 viên, vừa qua, dù có hơi thất vọng vì công phá được quá ít nhưng mà cũng may quá rồi vì đã qua được phần công phá.Trở lại sân đấu, chúng tôi được nghỉ 15 phút. Vào thi đấu, điều làm tôi thú vị nhất là thầy hỏi “Nguyễn Quỳnh Phương là trai hay gái ? ” cả lớp đều bật cười, và còn một số cái tên nữa thầy cũng hỏi tương tự, không khí căng thẳng lại trở nên thoải mái, nhẹ nhàng hơn. Đặc biệt phần đấu nữ luôn rất thoải mái, tuy nhiên có một bạn nam làm cho cả lớp phải cười nghiêng ngả, con trai gì mà lại ẻo lả, bị đánh tí là lại ôm lưng, cái mặt trông đến tội, cái cử chỉ làm ai cũng không thể nhịn cười. Còn có một anh bạn thì đấu quá sung, không hề nghe theo trọng tài, ra đòn quá mạnh và không chú ý đến lực đòn của mình thì đã bị cả trọng tài và thầy cảnh cáo. Đến phần thi của tôi, tôi gặp một bạn nữ cùng tầm, và tôi đã thắng nhưng chỉ ghi được điểm ở một đòn tay trước. Nhưng dù sao thì phần thi cũng kết thúc và tất cả mọi người được thông báo là đều đậu cả. Đây là một kết quả đáng được mong đợi nhất trong ngày hôm đó, ai nấy đều hào hứng đợi đến ngày được mang ba lô lên Bạch Mã.


            

 Luận văn thu hoạch

 
 1   2   3   4   5  > >>

  Trước    In trang