Trang chủ : Tư liệu
SẼ KHÔNG BAO GIỜ MỜ NHẠT MAI SAU

      
Zơ râm Thị Ngân
CLB khoa GDTC
Huyền đai Khóa Bạch Mã 2014


Ngày được trao “chiếc nhẫn cưới” trên đỉnh Bạch Mã sơn cũng chính là ngày tôi nhận ra rằng tôi yêu “người tri kỉ” này biết nhường nào và nguyện trong lòng sẽ mang những gì chúng tôi đã cùng trải qua với nhau để sống trọn cuộc đời này dẫu sau này có ra sao đi chăng nữa.

Khoảnh khắc Ngân được trao “chiếc nhẫn cưới” trên đỉnh Bạch Mã

Một ngày mưa dầm của tháng 11 năm thứ nhất của thời sinh viên. Ngồi nơi chiếc giường mới dọn dẹp sau một buổi sáng chuyển vào kí túc xá, tôi ngẫn ngơ ngắm những hạt mưa rơi ngoài ban công trước phòng, trong đầu đang suy ngẫm về những việc đã qua và dự tính cho những dự định sắp tới. Bỗng lúc ấy, như một cơ duyên vậy, vô tình bóng dáng của các anh chị mặc bộ võ phục trắng, thắt chiếc đai đen lọt vào tầm mắt của tôi, một thoáng khựng lại, có lẽ họ đang đi về sau một buổi tập, chao ôi, sao trông họ oai đến vậy, tôi thầm nhủ. Từ bé tôi đã mê những bộ truyện ganma, tôi rất thích đất nước, con người và cả tinh thần của người Nhật Bản, đặc biệt đây là nơi khởi nguồn của môn võ karate-do nổi tiếng khắp thế giới. Tôi như cá gặp nước vậy, trong lòng lúc ấy bỗng rộn lên một niềm vui thích mãnh liệt, tôi như một cô gái ngại ngùng, thích thú khi vô tình chạm phải ánh mắt của một chàng trai dễ thương nào đó vậy. Đang suy tư, cô bạn cùng phòng vỗ vai tôi một cái và không quên kèm theo ánh mắt đầy tò mò, lúc này tôi mới nhận ra cô ấy cũng đang mặc bộ võ phục trắng của môn võ karate-do nhưng lại thắt chiếc đai trắng với vài vạch xanh. Thế là không một chút đắn đo, suy nghĩ, tôi xin gạ hỏi tham gia vào lớp học karate-do cùng cô bạn ngay buổi tập sau đó.

Tôi không còn nhớ rõ chi tiết ngày đầu tiên vào lớp võ thế nào, nhưng tôi vẫn còn nhớ cái cảm giác lo lắng và hơi sợ sệt trước khi xin vào lớp. Tôi lo lắng vì lâu nay bản thân chỉ quen với việc múa may hát hò, còn đánh đấm thì tôi rất muốn học nhưng chưa hề có cơ hội. Vào buổi học ấy, tôi được xếp vào lớp mới, lớp tôi do anh Hiến phụ trách. Anh dong dỏng cao, người hơi gầy với làn da bánh mật. Buổi học không căng thẳng như tôi nghĩ, anh đã nở một nụ cười rất thân thiện và hỏi tên từng đứa chúng tôi. Sau đó anh giới thiệu sơ qua về môn võ karate-do này và nguồn gốc hệ phái Suzucho một cách ngắn gọn, đầy đủ nhất. Bài học đầu tiên chúng tôi được học đó là nghi thức chào, và vài động tác cơ bản. Lúc ấy tôi đã nghĩ rằng tôi đã không sai lầm khi chọn học môn võ này, và cả một quãng thời gian sau đó, tôi đã chứng minh điều tôi nghĩ là hoàn toàn đúng.

Mùa đông nơi đất cố đô này như dài lê thê hơn bởi những cơn mưa dai dẳng, không quên kèm theo những cơn gió đông giá lạnh. Vì không đủ chỗ tập nên lớp mới của chúng tôi được tách biệt hẳn với các lớp khác. Chúng tôi được tập trên một dãy hàng lang nhỏ phía sau nhà thi đấu của khoa GDTC. Những lần đầu tập luyện, chúng tôi thường gọi anh huấn luyện viên là thầy, nhưng những lúc ấy, anh thường dặn chúng tôi rằng “anh không phải là thầy, chúng ta chỉ có một thầy thôi, đó là thầy Dũng, các em hãy gọi anh là anh huấn luyện viên thôi”, và anh kể cho chúng tôi nghe về thầy và những bài học thầy gửi gắm qua những câu chuyện nhỏ trong những buổi tập, trong đó có cả những kỉ niệm của các anh chị đai đen khi luyện tập với thầy. Lúc ấy, tôi nhận ra rằng, anh quý trọng thầy biết bao và dường như anh đang cố gắng truyền lại cho chúng tôi những bài học ấy. Mùa đông lạnh giá, gió lạnh lùa từng đợt cắt da cắt thịt và những cơn mưa dầm đôi lúc đã khiến nhiều đứa trong chúng tôi nghĩ tập. Những lúc ấy, anh huấn luyện viên thường động viên chúng tôi, không phải bằng những lời đường mật hay níu kéo, các anh cho chúng tôi hay việc đến sân tập cũng chính là một trong số những bài học và thử thách xem liệu chúng tôi là những đứa can đảm hay ngại khó, kiên trì hay mau nản trước khó khăn và xem sức chịu đựng của chúng tôi đến đâu. Không biết nó có tác dụng như thế nào với các bạn đồng môn, nhưng đối với tôi, nó quả thực có tác dụng ngay từ lần đầu tiên khi chạm vào lòng tự trọng của một đứa con gái cứng đầu như tôi. Suốt mùa đông năm ấy và cả những mùa đông lạnh giá sau này, tôi vẫn là đứa đi tập gần như đều đặn, ngoại trừ những lúc có việc bận hoặc ốm đau. Tuy nhiên, không thể không kể đến những lúc sự thích thú của tôi bị lay động và thuyên giảm đi. Vì là lớp mới, chúng tôi chỉ được tập đi tập lại những động tác đấm Teken Tsuki hay đòn đở Uchi Ưke vv…chúng được lặp đi lặp lại nhiều lần nên đôi khi đâm ra lại gây chán cho chúng tôi. Nhưng may mắn thay, lại một lần nữa, các anh chị huấn luyện viên lại khiến tôi hiểu cái cốt của việc luyện nên những đòn thế đó. Các anh chị dặn chúng tôi rằng việc lặp lại đó chính là cách thức giúp chúng tôi luyện đòn thành kĩ xảo riêng cho bản thân. Đôi lúc anh huấn luyện viên còn cho chúng tôi xem tác dụng của những đòn thế đó trong thực chiến. Những lúc ấy, chúng tôi quên hết mệt mỏi, chán nản, nhìn đứa nào đứa nấy đều chăm chú nghe anh huấn luyện viên như thể muốn nuốt từng lời anh nói vậy. Ngày tháng trôi qua, những đứa đồng môn như chúng tôi bắt đầu thân nhau hơn, chúng tôi có có thể tâm sự nhiều hơn với các anh chị huấn luyện viên. Chúng tôi bắt đầu tập luyện chăm chỉ hơn và giúp đỡ nhau nhiều hơn trong giờ tập. Lớp chúng tôi may mắn được nhiều các anh chị thay nhau huấn luyện, mỗi người mỗi tính cách, mỗi cách huấn luyện khác nhau nên chúng tôi được tiếp xúc và trải nghiệm nhiều tính cách và trình độ khác nhau của mỗi người. Tuy nhiên, một điểm chung lớn nhất nơi câu lạc bộ Thể chất này chính là mọi người đều tận tâm với công việc và luôn muốn truyền lại cho các võ sinh những bài học lớn thông qua những mẫu chuyện nhỏ.

Thi thoảng tôi lại được vài bài học nhớ đời. Một lần, sau giờ tập, anh huấn luyện viên kiểm tra chúng tôi kĩ thuật đứng tấn Siko Dachi trong mười lăm phút. Nghe tới đây, tôi bỗng rùng mình. Mỗi lần lên sân tập, cho dù biết đứng tấn sẽ giúp tôi tập luyện tốt hơn nhưng tôi vẫn ớn lạnh những cơn đau do căng cơ mỗi lần đứng tấn. Thấy mặt tôi hơi tái, anh huấn luyện viên động viên chúng tôi bằng những câu “việc này sẽ giúp kiểm tra lại quá trình tập của các em và điều quan trọng là xem sức tập trung và sức chịu đựng của các em đến đâu”. Với cái tôi không muốn thua người khác, tôi vẻ làm mặt tỉnh bơ xuống tấn. Ôi chao cái chân, sao anh huấn luyện viên lại kiểm tra đúng lúc mình bị chấn thương xương hông chứ, tôi thầm nghĩ, nhưng không để thua ai, tôi vẫn quyết đứng tiếp. Sau gần năm phút hai đầu gối của tôi bắt đầu run lên trong khi chưa ai có dấu hiệu mỏi mệt gì cả. Tôi cố đứng cho thật vững nên đâm ra người cứ bị gồng lên khiến tôi suýt té nhào. Trong lòng tôi xáo trộn biết bao nhiêu thứ, những suy nghĩ như một mớ hỗn độn, một nữa khuyên tôi bỏ cuộc, nữa kia bảo tôi phải đứng cho đến phút cuối cùng. Anh huấn luyện viên thấy tôi nhăn mặt với tư thế “cong như con tôm luộc”, anh vội nhắc nhở tôi chỉnh lại tư thế. Những chuyện gì đến rồi cũng đến, hai chân của tôi bỗng khụy xuống một cách đau đớn. Một nỗi buồn vô hạn len lỏi khi bản thân mình không thể vượt qua được bài kiểm tra đầu tiên. Hai mắt rưng rưng, tôi chẳng còn dám ngước lên nhìn mọi người và đợi vẻ mặt nghiêm nghị của anh huấn luyện viên. Nhưng lạ sao, anh huấn luyện viên lại ngồi xuống và nhẹ nhàng giúp tôi đứng lên cùng lời động viên ân cần rằng tôi đã làm rất tốt và cố gắng thêm lần sau. Các bạn đồng môn cũng động viên thêm khiến tôi cảm thấy ấm lòng. Sau lần đó, tôi luyện tập tích cực hơn và cảm thấy mong muốn được đến sân tập nhiều hơn. Những tháng ngày sau đó là những buổi tập mang đầy tiếng cười với những câu chuyện nhỏ được kể trong mỗi buổi tập. Dần dà, tôi cảm thấy không nơi nào quen thuộc hơn câu lạc bộ này và dường như tôi bắt đầu không thể xa rời nó.

Tháng ngày trôi qua, chúng tôi bắt đầu được kiểm tra để chuẩn bị thi lên đai xanh. Quả thực tôi vẫn còn nhớ như in cái cảm giác lo lắng, hồi hộp khi sắp đến ngày thi. Ai nấy trong chúng tôi đều hăng say luyện tập đến độ về nhà mà chân tay mình bầm tím lúc nào không hay. Lúc nào cũng vậy, trước lúc thi bao giờ anh Hùng, huấn luyện viên trưởng cũng kiểm tra lại một lượt bài quyền và kĩ thuật của chúng tôi. Có lần run quá đến độ mới đi được vài đòn của bài Hean Shodan tôi đã lớ quớ đứng như trời trồng mà không nhớ nỗi tiếp theo sẽ đi như thế nào. Mỗi lần như vậy, anh chỉ chậm rãi phán cho chúng tôi một câu lạnh tanh “về chỗ, hít 20 cái hít đất” rồi im lặng. Thế là tôi đỏ mày đỏ mặt ngượng ngùng mà trách mình sao tệ quá. Không biết là thật hay suy diễn nhưng tôi thường để ý thấy sau những lần chúng tôi quên quyền hay lơ đểnh trong buổi tập, anh lại thở dài. Tôi chợt cảm nhận được rằng có lẽ anh đã dồn tâm huyết cho câu lạc bộ này nhiều đến nhường nào. Sau những lần gặp sự cố như vậy, tôi luôn tập trung tốt hơn, luyện tập tích cực hơn. Tôi thầm cảm ơn anh nhiều lắm khi đã bằng một cách nào đó đã khiến tôi nhận ra mình còn phải cố gắng nhiều để tốt hơn sau những lần thất bại.

Sau những buổi tập tăng cường với bao mồ hôi và cả nước mắt, chúng tôi hội tụ về võ đường để thi lên đai. Tôi nhớ như in cái cảm giác thích thú khi đến võ đường. Tôi rất ấn tượng với ngôi nhà với những cánh cửa bằng kính trong suốt, đẹp đẽ kia. Ngôi nhà không lớn nhưng  đủ khiến người khác cảm giác được sự thoáng đãng và tinh tế của chủ nhà. Đi một vòng, chúng tôi say sưa ngắm những tấm hình của các anh chị, các bạn trong những chuyến hành quân lên Bạch Mã hay tấm ảnh chụp các câu lạc bộ ở nhều nơi. Tôi đã trầm trồ và ước mình được một lần lên ngắm bình minh nơi Bạch Mã sơn hùng vĩ ấy. Lên lầu hai, phòng tập được bài trí theo cách thức của các võ đường bên Nhật. Đập vào mắt tôi là bàn thờ tổ và những thẻ bài có tên của các anh chị nhất đẳng trở lên. Hít một hơi thật sâu để lấy tự tin và cảm nhận cái không khí trang nghiêm của một võ đường thực thụ. Tôi chợt mỉm cười khi nghĩ rằng mình có lẽ không cần đến Nhật Bản để xem võ đường của người ta vì mình đã có thể tận hưởng cái niềm hạnh phúc ấy ngay chính tại võ đường Nghĩa Dũng này. Mọi việc diễn ra thật suôn sẻ và trông ai cũng mang khuôn mặt rạng rỡ khi tự hào rằng mình đã vượt qua thử thách đầu tiên.

Năm đại học thứ hai 2012, nhóm lớp xanh chúng tôi được anh Lợi, một huấn luyện viên nhiệt tình với các võ sinh huấn luyện. Mỗi lần anh dạy một bài quyền mới, anh đều chỉ cho chúng tôi cách sử dụng của đòn thế. Anh cũng cao to, đẹp trai, đặc biệt anh mặc bộ võ phục trông rất đẹp. Như các anh huấn luyện viên trong câu lạc bộ, anh cũng thường hay kể những kỉ niệm học võ với thầy của mình, những kinh nghiệm anh đúc kết từ những năm tháng đam mê với võ. Rất chân thành, tình cảm và đầy suy ngẫm, anh giúp chúng tôi nhận ra rằng không có người nào bất tài cả, chỉ có những người không biết cố gắng và cố gắng không đúng cách mà thôi. Tôi không rõ trong đời sống thường ngày của các anh chị huấn luyện viên như thế nào, nhưng tôi chỉ cảm nhận một điều rằng các anh chị đã cố gắng làm gương cho chúng tôi thấy một người học võ phải như thế nào, từ tư thế ngồi, cúi chào, đi quyền đến việc phải đối xử sao cho hợp tình hợp lý trong cuộc sống hằng ngày chẳng hạn như việc bạn mượn tiền mà không chịu trả, hay khi người khác lỗ mãn, gây hấn với mình thì phải làm sao để không dùng tới vũ lực. Tuy các anh chị huấn luyện chúng tôi không được lâu, nhưng tự đáy lòng tôi vẫn luôn thầm cảm ơn họ khi đã tiếp thêm niềm đam mê Karate cho tôi bằng những lần đi quyền nhanh, mạnh đến mê người, những giờ phút luyện tập nghiêm túc,hiệu quả, trách nhiệm và cả những bài học sâu trong những câu chuyện nhỏ.

Càng lớn, ta càng tích góp cho mình nhiều hơn những kỉ niệm vui buồn khó quên. Tôi cảm thấy mình quả thực là một cô gái may mắn khi nhiều lần được anh Hùng huấn luyện viên chọn để tham gia cho các giải đấu. Với tôi thì không thể bỏ qua kỉ niệm ấy, đó chính là dịp diễn ra giải karate-do cho sinh viên đại học và học sinh chuyên nghiệp toàn quốc 2012. Năm ấy, tôi vô cùng phấn khích khi được anh Hùng huấn luyện viên chọn vào một trong số những vận động viên đại diện cho trường đại học ngoại ngữ tham gia giải. Vui mừng vì mình có cơ hội thử xem trình độ tới đâu, phần thì lo lắng vì đây là lần đầu tiên bản thân được tham gia giải lớn như vậy. Tôi vẫn nhớ như in ngày đầu lên võ đường để tập. Tôi, một cô gái mang chiếc đai xanh bước vào phòng tập, mọi con mắt dường như đều nhìn vào tôi, lúc ấy cái cảm giác lạc lõng và muốn gặp người quen thật sự lớn. Nhiều người nhìn tôi với ánh mắt lo ngại, đôi khi là khinh khỉnh, mỉa mai, vài người hỏi tôi “Mới lên đai à, tập nổi không”. Đến giờ tập, một anh huấn luyện viên bước vào. Đập vào mắt tôi đầu tiên là mái tóc của anh, thật ấn tượng khi anh có một mái tóc rẽ ngôi giữa, được vuốt keo đậm chất Nhật Bản. Sau khi chia đội tập ra anh quay sang nhìn đội chúng tôi, rồi quay sang nhìn tôi “Em ở đội nào vậy”, “Lên đai được mấy tháng rồi”, tôi trả lời rõ ràng nhưng trong lòng lại buồn so. Tôi buồn lắm, nhưng nghĩ lại càng như vậy tôi càng muốn cho mọi người thấy tuy vẫn còn non yếu nhưng tôi sẽ nổ lực hết mình với một sự nghiêm túc cao. Chúng tôi cùng nhau đi vào guồng quay của những ngày tập luyện vất vả. May mắn thay, chúng tôi được anh Kiếm mọi người thường gọi anh là anh Đa, chính là anh huấn luyện viên lúc đó, dẫn dắt cả ba chị em. Càng tập với anh tôi càng phát hiện ra nhiều điều thú vị về anh. Tôi ấn tượng với sự nhiệt tình đầy trách nhiệm và đặc biệt là tính nghiêm khắc của anh. Trong khi nhiều người than vãn hoặc ngán ngẫm khi thấy anh lúc nào cũng bắt tập đi tập lại những đòn thế trong một bài quyền nào đó thì tôi lại vô cùng thích thú với điều này. Tôi cảm nhận rằng đây mới thực sự là tinh thần của Karate-Do Nhật Bản. Mỗi lần lặp lại một đòn nào đó là mỗi lần sức của tôi lại được tăng thêm lên, đòn thế tốt hơn, nhanh mạnh hơn. Tôi đã không hổ thẹn với bản thân khi chứng minh phần nào sự nổ lực trở nên tốt hơn và làm mọi người nhìn mình bằng con mắt khác. Bằng chứng là sau vài lần lớ quớ trên phòng tập thì tôi đã có thể hòa vào cường độ tập của các anh chị đai đen khá nhanh. Mọi thứ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều với tôi. Điều hạnh phúc hơn nữa là chính anh Đa đã khen tôi tập tốt hơn hai chị đai đen còn lại.  Khi ngẫm lại những gì mình làm được tôi không thể tin mình có thể tiến tới mức độ đó và tự hào khi bản thân đã phát hiện ra tiềm lực trong bản thân mà bấy lâu nay tôi không nghĩ nó tồn tại. Mùa giải đi qua với bao niềm tiếc nuối xen lẫn buồn vui. Tuy không giành được những tấm huy chương vàng sáng chói, nhưng tôi lại nhận được những thứ to lớn hơn thế. Đó là tình đồng đội đồng cam cộng khổ, đó là những tình bạn không hề toan tính hơn thua, đó cũng chính là niềm tin, sự nổ lực của bản thân dám đương đầu với thử thách, thắng không kiêu, bại không nản. Không những thế, tôi còn đúc rút ra vài kinh nghiệm xương máu từ việc rơi vào vài tình huống khó khăn rằng không nên vội vàng phán xét năng lực của người khác khi chưa thấy họ nổ lực, và việc sẵn sàng làm bất cứ điều gì vì lòng đố kị, tính hơn thua sẽ chỉ làm con người ta thỏa mãn trong một chốc lát, nhưng sẽ là một tấm gương vô cùng xấu cho những thế hệ sau. Với tôi, tất cả những điều ấy còn quý giá hơn cả ngàn tấm huy chương mà người ta giành được trên sàn đấu.

Mọi thứ trở về guồng quay của nó. Mọi người lại trở về với cuộc sống của riêng mình, bận rộn với công việc thường nhật, những lo toan về cuộc sống vật chất và cả những dự định cho tương lai. Tuy thế, chúng tôi vẫn không quên việc đến sân tập vào mỗi buổi chiều thứ 2, 4, 6 lúc 17h30 để cùng nhau giải tỏa những căng thẳng sau một ngày bận rộn. Những trận cười toẹt ga lại rôm rả trên sân trong những phút giải lao ngắn ngủi. Chúng tôi, không ai nói một lời nhưng đều cảm nhận rằng niềm hạnh phúc nhỏ nhoi đang nằm chính nơi sân tập này. Rồi những ngày lễ đến, dù có bận đến mấy các anh chị huấn luyện viên đều không bao giờ bỏ qua truyền thống của câu lạc bộ đó là tổ chức 8/3 và 20/10 cho các bạn gái trong toàn sân tập. Bao giờ cũng vậy, chị Nhàn và anh Hùng luôn là những người chuẩn bị sẵn quà và bánh cho mọi người. Mỗi lần đến dịp ấy, mọi người lại háo hức vô cùng, đặc biệt là mấy đứa con gái chúng tôi. Đã thành thông lệ, buổi lễ được tổ chức đúng 18h00, mọi người xếp thành một vòng tròn lớn xen kẽ nam nữ. Mỗi người được anh Hùng phát cho tập lời bài hát mà thầy hay dùng trong những buổi gặp mặt giao lưu võ sinh. Bắt đầu buổi giao lưu, anh Hùng bắt hát, chúng tôi đứa nào cũng ngêu ngao hát theo anh một cách say sưa. Xong đâu đó vài bài, các võ sinh nam được lên cạnh chiếc bàn đặt đầy những bông hoa hồng tươi rực rỡ, chọn một bông và không quên kèm theo một hộp bánh nhỏ xinh xắn. Những món quà đó được dành tặng cho người họ yêu mến. Đây có lẽ là màn hấp dẫn nhất của buổi giao lưu. Chúng tôi, những đứa còn độc thân lúc nào cũng hồi hộp chờ những bông hoa sẽ về với mình. Sau đó, chúng tôi được bốc thăm xem người nào may mắn có số trúng chiếc bánh kem hấp dẫn trên chiếc bàn ấy. Nhìn những khuôn mặt ngượng ngùng xen lẫn hạnh phúc khi được nhận hoa, những khuôn mặt mếu máo của các nàng khi chiếc bánh kem ấy rơi vào tay người khác, lòng tôi ấm lại, hạnh phúc vô cùng. Tôi nhận ra thêm nhiều điều quý giá mà mình đang có và chợt thoáng buồn khi nghĩ rằng không lâu nữa mình sẽ phải rời xa nơi này.

Thầy đã ví rất đúng, cuộc hành trình theo đuổi Karate-Do này của tôi giống như việc yêu một chàng trai vậy. Lý do để gặp nó thì vô số kể, nhưng một khi đã ngầm ý rồi, cô gái sẽ bắt đầu tìm hiểu chàng trai mà mình để ý. Càng tìm hiểu càng thấy thú vị, rồi một lúc nào đó phải lòng người ta lúc nào không hay. Nhưng để có được tình yêu ấy, cô gái sẽ phải trải qua nhiều cảm xúc mâu thuẫn nhau. Cuộc hành trình của tôi cũng vậy, chúng mang đầy niềm vui xen lẫn nỗi buồn và nước mắt. Tôi còn nhớ lần đó, lớp xanh chúng tôi luyện tập để thi lên đai nâu. Để cố gắng hoàn thành tốt mọi việc, chúng tôi đứa nào đứa nấy tập luyện nghiêm túc lắm đến độ đôi chân phồng rộp đầy nước, mình mẩy vài chỗ bầm tím mà vẫn cà nhắc đi tập. Thời gian đó tôi lại không may bị chấn thương bả vai trái. Đau nhưng vẫn không bỏ buổi tập nào, nhiều lúc nước mắt giàn giụa mà đi quyền, tập đấu. Về tới phòng, chị họ tôi nhìn thấy cảnh đó mà giận dữ nhìn tôi “Trời ơi, em học cái quái gì mà ra nông nỗi thế này”, “nó có ích gì to tát không mà phải thế này, từ mai nghỉ học võ cho chị”, “đã khó khăn thiếu thốn rồi, mẹ lại ốm đau nữa mà cứ bỏ tiền ra vào mấy thứ này”, “nghỉ võ mà kiếm việc làm thêm còn hơn”, vừa mệt mỏi, vừa ức chế về những lời chị nói, tôi nhìn chị không nói nên lời. Đêm hôm đó, tôi không ngủ được, nước mắt cứ lăn dài trên má, không phải vì những lời trách móc của chị mà vì bản thân của tôi. Đôi khi tôi cảm thấy mệt mỏi hơn sau những lần tập, hay bỏ lỡ nhiều cơ hội vào các câu lạc bộ có tiếng của trường chỉ vì trùng thời gian, và cả những lúc tiền bạc thiếu thốn không đủ cho hai chị em sinh hoạt học tập. Nhưng nghĩ lại tôi thấy bứt rứt và không đành lòng. Chẳng thà tôi mới học hoặc họa chăng không còn hứng thú nữa thì tôi có thể bỏ, nhưng đằng này dường như tôi coi đó là một phần trong cuộc sống mình rồi. Suy nghĩ, dằn vặt mãi, cuối cùng tôi đành xin lỗi chị vì mình chưa giúp được gì cho chị nhưng sẽ không từ bỏ võ, sau đó tôi giải thích cho chị về những gì tôi có được từ việc học võ. Chị ngồi hồi lâu rồi lại gật đầu cho tôi đi học lại. Từ đó, tôi kiểm nghiệm thêm một quan điểm rằng để có được thứ mình muốn, người ta phải đánh đổi rất nhiều thứ, chính vì vậy trước khi theo đuổi điều gì thì nên cân nhắc thật kĩ càng và nên có tầm nhìn xa cho tương lai của việc mình muốn làm.

Thử thách không dừng lại ở đó, ngày thi lên đai nâu tôi lại vướng phải một điều tồi tệ hơn. Từ sáng sớm loay hoay thế nào mà tôi đánh rơi mất cái ví tiền, trong có có vài giấy tờ cần thiết và vài đồ vật kỉ niệm mà tôi yêu quý. Buổi thi lên đai lại diễn ra vào buổi chiều. Điều tồi tệ nhất xảy đến là đang buồn chuyện lúc sáng, lại cuống lên thế nào mà tôi đã quên mất đem theo chiếc đai xanh. Lúc anh Hùng ra hiệu chúng tôi lên lầu hai, mặt tôi không còn hột máu. Tinh thần lúc đó trở nên tệ vô cùng. Tôi kéo thằng bạn lại mà nhờ nó chở về lấy đai. Nó ậm ừ rồi từ chối. Chao ôi, không lẽ bao công sức của tôi thành công cốc chỉ vì cái tội cẩu thả này hay sao, tôi thầm trách cứ bản thân. Lúc ấy, vận dụng tối đa các số anh chị võ sinh trong danh bạ điện thoại tôi tức tốc gọi điện nhờ giúp, nhưng không ai đến. Tuy nhiên sau đó tôi lấy lại bình tĩnh đến nói với chị Nhàn, và chuyện đến tai anh Hùng. Anh chỉ nhìn tôi và nói vẻn vẹn một câu “Đứng đó chờ, chị lần sau cẩn thận cho tôi”, rồi anh gọi cho một anh đai đen phóng xe mua hộ tôi một chiếc đai và gọi cô bạn cùng lớp xanh với tôi mang cái bệt nâu ra cho tôi. Những phút giây chờ đợi thấp thỏm trôi qua, ngay khi trông thấy anh bạn mang đai tới, tôi như được cứu sống vậy. Tôi cảm ơn anh rồi nhanh tay thắt đai và chạy nhanh lên lầu. Buổi thi hôm đó cũng diễn ra suôn sẻ như mọi khi. Xong đâu đó, tôi thở phào nhẹ nhõm rồi nhanh xuống xin lỗi vì đã làm phiền mọi người và cảm ơn họ đã giúp. Sau đợt ấy, tôi rút ra ba bài học nhớ đời, một là không được để cảm xúc chen vào công việc, cho dù trước đó có chuyện gì xảy ra đi chăng nữa, hai là làm việc gì cũng phải chuẩn bị chu đáo, cẩn thận và luôn luôn phải có những phương án dự phòng, ba là cho dù có bất cứ chuyện gì xảy ra thì bản thân phải luôn tỉnh táo, nhanh trí và bình tĩnh xử lý mọi việc. Một lỗi lầm và ba bài học nhớ đời.

Được thắt chiếc đai nâu, tôi cảm thấy bản thân trưởng thành hơn nhiều. Số đai xanh vơi dần đi, đám chúng tôi còn lại tám người. Cả hội đã hứa với nhau sẽ cùng lên Bạch Mã ngắm bình minh và cùng được thắt chiếc đai đen tự hào ấy. Chúng tôi đã thực sự là anh em của nhau bắt đầu từ lời hứa đó. Rồi những giải đấu nhỏ hơn lại đến, tôi và anh Cường, một sư huynh trước tôi một khóa được tham gia vào giải đấu tỉnh năm 2013. Anh cũng giống tôi ở chỗ cả hai đều là người đồng bào dân tộc thiểu số. Dường như vì vậy mà mọi người hay nhìn vào và bảo chúng tôi giống nhau, đôi lúc còn ghép đôi chúng tôi lại. Tập luyện cùng anh tôi mới biết sự cố gắng nổ lực của mình không bằng một góc của anh. Anh rất siêng tập luyện và luôn tận tình chỉ bảo những chỗ tôi còn khiếm khuyết. Nhìn anh tôi thấy mình thật xấu hổ khi không nổ lực hết sức để vượt qua những chặng khó khăn đó. Rồi ngày đấu cũng đến, tôi và anh cùng nổ lực hết mình cho giải. Đến trận chung kết Kata của tôi, anh cùng mọi người đứng ngoài không ngừng cổ vũ cho tôi, nhưng tôi vẫn thua. Buồn lắm nhưng không cay cú, tôi khẽ cười buồn vì tôi biết mình đã tập luyện chưa đến độ và còn yếu. Sự đời đôi khi quá trớ trêu, lúc tôi quay sang cổ vũ anh, anh cũng đang đi những bài quyền trong phần thi của mình. Bài quyền khá chắc chắn, dứt khoát, mạnh mẽ, chúng tôi đã tin chắc rằng anh sẽ đoạt ngôi quán quân. Nhưng trớ trêu thay, khi anh bắt đầu đi bài quyền cuối, bỗng có tín hiệu dừng thi đấu, người ta bảo anh đi bài quyền không đúng như đã đăng ký. Nhìn khuôn mặt anh lúc ấy mà nước mắt tôi rơi lả chả, tôi tiếc cho công sức của anh khi anh hoàn toàn có thể thắng đối thủ một cách dễ dàng. Mọi người đều ngỡ ngàng, tiếc nuối, chính anh cũng ngỡ ngàng, rồi anh chỉ cười buồn và nói “Dù sao cũng thua rồi mọi người đừng buồn nữa”. Không biết đúng hay sai nhưng tôi nghĩ tôi là người thấu hiểu hơn ai hết nỗi lòng anh, sự nổ lực của anh. Nơi anh, tôi lại nghiệm ra vài điều là dù con người ta có cố gắng hết sức nhưng đôi lúc thành công còn phải dựa vào yếu tố may mắn nữa. Yếu tố ấy không nhất thiết phải là tự nhiên mà chính con người có thể tạo dựng được nó. Nếu lúc ấy anh Cường tỉnh táo hơn, đầu óc bớt căng thẳng hơn thì có lẽ đã không ai có thể giành lấy ngôi vị quan quân ấy của anh.

Trở thành sinh viên năm thứ ba, tôi cảm giác mình không còn nhiều thời gian cho võ nữa. Những buổi học nhóm gần như ngốn hết thời gian của tôi. Những lúc căng thẳng, tôi chỉ muốn được lên sân tập để tận hưởng cái cảm giác thoải mái mà tôi đã thân thuộc. Năm nay quả là một năm bận rộn cho võ đường. Những buổi đồng diễn cứ thay nhau diễn ra. Chúng tôi cũng tất bật tập luyện cho những buổi biểu diễn. Tuy việc khó khăn nhưng anh em trong các câu lạc bộ đều vui vẻ tình nguyện tham gia. Chẳng bù cho mỗi lần về quê, tôi lại đắng lòng khi nghe các anh chị trong xã tâm sự rằng việc công gì cho dù là tình nguyện hay ngay cả việc đó phục vụ lợi ích cho dân thì cũng phải có chút gì đó gọi là “bồi dưỡng thêm” thì người ta mới chịu làm. Hèn gì nước ta luôn bị đứng vào tốp đầu về tham nhũng, hối lộ, đặc biệt khi ngay cả thanh niên cũng có tư tưởng đó. Chính vì vậy, mỗi lần nhìn thấy cảnh vui vẻ trước buổi đồng diễn, tôi lại nghĩ giá như bây giờ người ta đừng làm mất đi ý nghĩa của hai từ “tình nguyện”  mà thành tâm thực hiện việc thiện thì hay biết mấy. Tôi luôn tự hào rằng mình là dân võ, không phải vì việc đấm đá mà là việc mình được thiên hạ cho là những người có tinh thần kỉ luật cao không thua gì quân đội. Thầy đã cho chúng tôi thấy sức mạnh của kỉ luật trong mọi công việc lớn đến nhường nào. Chẳng hạn như việc tham gia vào buổi đồng diễn tại sân vận động tự do vào ngày 19 tháng 5, do Tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức. Một buổi lễ có quy mô lớn, đến cả ngàn người và võ đường cũng tham gia đến cả ngàn người. Một số lượng người lớn đến như vậy mà không hề xảy ra hiện tượng bát nháo, lộn xộn như bầy vịt, bởi một lẽ mọi thứ đều nằm nơi hai chữ “kỉ luật”. Thầy tôi luôn coi kỉ luật là điều tiên quyết cho mọi thành công. Thầy thường nói cho chúng tôi mỗi khi xếp hàng chụp ảnh hay xếp hàng cho buổi đồng diễn đó rằng hãy coi thầy là cấp chỉ huy, tất cả mọi người chỉ được nhìn thầy và nghe theo một mệnh lệnh duy nhất. Y như rằng một mệnh lệnh, ai cũng răm rắp làm theo lời thầy. Thật tuyệt vời làm sao, chừng ấy con người được chỉ huy xếp có hàng có lối, hàng nào ra hàng ấy, đặc biệt không hề mất trật tự như những đội khác. Khi buổi lễ diễn ra, như những cánh bướm trắng bay dồn về phiá trước, tất cả võ sinh cùng đồng loạt dâng lên theo hàng lối đã định sẵn. Khán giả hai bên khán đài đã phải trầm trồ, thán phục và cổ vũ nồng nhiệt cho toàn võ đường. Thêm một điều lí thú nữa là sau buổi đồng diễn, không ai bảo ai, tất cả mọi người lại tập trung đúng vị trí cũ và chờ thầy dặn dò. Tôi thiết nghĩ, phải là một người có uy lực, uy tín và năng lực và được mọi người kính trọng thì thầy mới có thể khiến hàng ngàn người kia nghe theo lời của người, thật đáng khâm phục.

Ngày tháng trôi qua, thoáng đó đã ba năm ròng rã, chúng tôi háo hức tập luyện cho đợt thi lên đai đen vào cuối tháng 6. Đứa nào cũng hạnh phúc nhưng không khỏi lo lắng, bởi đây là lần thử thách quan trọng và căn bản để chứng tỏ sự cố gắng nổ lực, niềm đam mê theo đuổi võ suốt ba năm qua của mỗi người. Việc chúng tôi theo đuổi võ là một nổ lực không hề nhỏ của bản thân. Vượt qua bao thử thách, khó khăn để cùng hòa nhịp, sống với tinh thần của Karate-Do là một thành công không nhỏ của anh em đồng môn chúng tôi. Đến lúc này tôi hạnh phúc khi ngẫm lại một điều rằng, người luôn theo sát, hướng dẫn, chăm lo cho chúng tôi nhiều nhất là anh Hồ Đăng Quốc Hùng, huấn luyện viên trưởng đáng kính của chúng tôi. Anh là người mà tôi ngưỡng mộ, kính trọng và tự hào nhất. Cho dù bận công việc thế nào đi nữa anh cũng luôn đến sân tập xem chúng tôi tập tành ra sao. Có lần anh gọi tôi lại, hỏi han chuyện bệnh tình mẹ tôi ra sao rồi động viên, an ủi tôi và nhắc tôi đi tập thường xuyên. Lúc ấy nước mắt tôi chực trào, cảm động khi anh để ý chăm lo cho chúng tôi dù là chuyện nhỏ. Từ đó, tôi coi anh như một người anh trai, tôi càng thêm yêu võ, tự nhủ với lòng sẽ gắn bó với sân tập lâu dài nhất có thể. Tôi cảm nhận rằng anh là một con người làm việc có nguyên tắc, luôn chu đáo đến những điều nhỏ nhất, anh luôn là người đứng sau sân tập, quan sát, nhắc nhở chúng tôi mỗi khi chúng tôi gây rắc rối. Một điều khiến tôi càng mến anh nữa chính là anh luôn phân định rạch ròi giữa công việc và vui chơi. Trong sân tập, anh sẵn sàng buộc chúng tôi tập đi tập lại hoặc phạt ngay tức khắc những lúc chúng tôi mất tập trung, đi quyền chưa đạt yêu cầu. Thêm vào đó, những lúc có công việc nhờ đến câu lạc bộ, anh nhanh tay phân chia công việc hợp lý cho từng đứa, dặn đi dặn lại và đảm bảo chắc chắn việc được hoàn thành tốt. Ngoài sự nghiêm khắc trong công việc, anh còn là một cây pha trò xuất sắc. Chúng tôi luôn phải ôm bụng cười không ngớt mỗi lần anh đùa hoặc nghe anh hát. Tôi chắc chắn một điều rằng ai trong câu lạc bộ cũng yêu quý anh. Cái ngày hai anh em chúng tôi thua trong trận thi đấu giải tỉnh, anh Cường tâm sự với tôi rằng anh ấy không buồn vì thua giải đấu, anh chỉ cảm thấy có lỗi với anh Hùng, người đã tận tâm theo sát hai anh em trong suốt quá trình tập luyện cùng những lời động viên chân thành. Anh đã tạo động lực cho chúng tôi, bằng cách nào đó, anh đã giúp chúng tôi đi đến chặng đường này một cách thành công. Sâu tận đáy lòng, tôi biết ơn anh thật nhiều.

Kì thi lên đai gần kề. Chúng tôi được anh Hùng cho tập tăng cường để đảm bảo chất lượng bài thi. Có lẽ tôi là người tập nghiêm túc, tập trung nhất. Tôi đã mong mình sẽ đạt kết quả tốt, xứng đáng với những gì tôi đã bỏ ra. Tuy nhiên, sự đời chẳng để con người ta dễ dàng đạt được điều gì cả. Tôi, một đứa con gái mới 21 tuổi đã vô cùng ngỡ ngàng khi nhận được kết quả chụp x-quang từ bệnh viện “Cháu bị thoái hóa bẩm sinh đốt sống thắt lưng, từ giờ không được hoạt động mạnh vì nó có thể biến chứng tệ hơn…”. Như sét đánh ngang tai, nước mắt tôi chực trào, trong lòng đau nhói, điều đầu tiên tôi nghĩ đến đó là làm sao tôi có thể bỏ võ giữa chừng khi tôi sắp vượt qua một chặng mới, rồi cả chuyến đi Bạch Mã mơ ước ấy, bao nhiêu nổ lực của mình sẽ tan theo mây khói. Tôi đã hỏi bác sĩ rất nhiều lần, đến khám ở nhiều bệnh viện, nhưng đều cho một kết quả. Suốt những ngày sau đó, tinh thần tôi xuống dốc rất nhanh. Những cơn đau càng ngày càng dày vò cái lưng tội nghiệp của tôi. Lên sân tập, tôi như người mất hồn vậy, bạn bè hỏi han, tôi cười trừ rồi trả lời bâng quơ. Thế rồi tôi hỏi ý kiến của một người chị bạn, cô ấy là một bác sĩ đa khoa, cô ấy khuyên tôi không nên mạo hiểm chỉ vì sẽ có thể ảnh hưởng đến sức khỏe sau này. Bao nhiêu cảm xúc xáo trộn, mâu thuẫn giữa việc bỏ cuộc hay tiếp tục cấu xé tâm can tôi. Chưa bao giờ tôi thấy mình lâm vào tình cảnh thế này. Rồi tôi nói cho anh Hùng, lúc nào anh cũng chỉ vẻn vẹn một câu “Còn đau à?”, “Có đi được không”, tôi ậm ừ, không biết phải làm sao. Bao nhiêu cách, bao nhiêu phương pháp đều không khả thi vào lúc này. Sau nhiều ngày suy nghĩ, tôi quyết đinh mạo hiểm để đổi lấy chuyến đi. Anh em trong nhóm đai nâu chúng tôi cũng giúp đỡ, động viên tôi thật nhiều trong đời sống hằng ngày. Lúc này, tôi cảm thấy mình được an ủi phần nào và có thêm động lực cho chặng đường phía trước. Ngày thi lên đai đến, với những liều thuốc giảm đau, tôi cùng cả đội cùng nhau vượt qua bài kiểm tra một cách thành công. Tuy không được kết quả cao nhất nhưng tôi mừng vì mình sẽ được tham gia vào chuyến đi trải nghiệm mong đợi đó. Sau chuyện này, tôi càng cảm nhận rõ hơn tình đồng đội, sự đùm bọc lẫn nhau những lúc khó khăn hoạn nạn, và hạnh phúc hơn thế khi tôi nhận ra rằng mình có những người bạn tuyệt vời nhờ võ.

Trước chuyến đi hành quân lên đỉnh Bạch Mã, cả đám chúng tôi nảy ra ý tưởng tri ân các anh chị huấn luyện viên. Các anh chị đều có những món quà riêng nhưng đặc biệt hơn, chúng tôi muốn tự tay làm món quà cho anh Hùng. Thế là cả mấy cái đầu cụng lại bàn bạc. Sau một hồi, tôi đưa ra ý tưởng làm một bức tranh bằng “hạt gạo” tặng anh và được mọi người hưởng ứng ngay. Cả nhóm bắt đầu chia công việc chọn quà, còn tôi phụ trách phần nguyên liệu làm tranh. Tôi cẩn thận lựa những nguyên liệu tốt nhất để làm tranh và hi vọng vào bức tranh đó thật ý nghĩa. Mọi người có vẻ rất hăng hái khi chia công việc làm tranh với nhau. Riêng tôi, vào buổi tối trước đó tôi đã tranh thủ ngồi rang gạo tới khuya để cho kịp làm bức tranh với một tư thế ngủ gật không thể nào nhịn cười nổi. Sáng hôm sau, mọi người nhận công việc lọc gạo. Đây là việc đòi hỏi sự cần mẫn chọn từng hạt để phân màu sắc. Mỗi lần làm xong một nắm gạo, ngẩng lên nhìn cái mặt đờ đẫn của từng đứa mà cả đám không thể nhịn cười nổi. Thế rồi, từng ngày, cả đám lại cần mẫn gắp từng hạt gạo xếp lại thành một bức tranh hoàn chỉnh. Có nhiều lúc chúng tôi tranh cãi nhau khốc liệt về phối cảnh, chọn màu, nhưng rồi mọi người cũng đưa ra quyết định cuối cùng. Ngoài mong đợi, bức tranh hoàn thành trong niềm hạnh phúc không thể tả của cả nhóm bởi một lẽ bức tranh là cả sự tâm huyết, tấm lòng, niềm quý trọng dành cho một người mà chúng tôi quí mến. Ngày anh Hùng nhận món quà, tôi thấy trong mắt anh niềm hạnh phúc khi nhận tấm lòng của học trò mình. Tối hôm đó anh đã ngắm bức tranh và tự mình phân tích ý nghĩa của bức tranh đó, bức tranh có một chữ ÂN nổi bật trên nền khung cảnh buổi chiều tà trên sông. Tôi nghiệm ra rằng khi bản thân dốc tâm huyết vào một điều gì đó tốt đẹp thì chắc chắn ta sẽ nhận được những điều tốt đẹp hơn ta tưởng.

Tạm chia tay nơi phố xá đông người, tôi háo hức chuẩn bị chuyến hành quân lên đỉnh Bạch Mã như dự định. Tôi tự nhủ bản thân phải luôn lạc quan thì mới có thể vượt qua thử thách mà không còn đau đớn. Tối hôm trước ngày đi, chúng tôi tập trung nơi võ đường quen thuộc để kiểm tra tư trang. Bao giờ cũng vậy, anh Hùng luôn kiểm tra trước toàn bộ ba lô cho chúng tôi một lươt cẩn thận. Tới giờ, chúng tôi yên tâm ngồi nghe thầy dặn dò những điều cần thiết cho chuyến đi và thầy không quên quán triệt tinh thần kỉ luật cho chúng tôi. Sáng sớm hôm sau, thầy tít còi ra hiệu khởi hành chuyến đi, ngồi trên xe, trong lòng tôi không khỏi lo lắng về chặng đường dài mà mình chưa từng trải qua khi những cơn đau có thể đến bất chợt.

Đoạn đường đầu không khó khăn như tôi tưởng, cả đoàn 83 con người đang dần chinh phục đỉnh Bạch Mã sơn ở những chặng đầu tiên. Lúc đầu, cả đoàn như một con rắn dài đang từ từ trườn theo dốc núi, nhưng vài tiếng sau đó, con rắn ấy bị cắt ra thành từng đoạn cách xa nhau. Đoàn chúng tôi có một cậu bé, có vẻ cậu rất được mẹ nuông chiều nên thứ gì cũng có trong ba lô cậu cả. Đi đến chặng nghĩ chân đầu tiên cậu đã thở phì phò, thế là bao nhiêu thứ trong ba lô cậu phân phát hết cho chúng tôi, vừa thấy tội vừa buồn cười cái cảnh cậu lôi đống đồ ra mà chúng tôi nhanh tay tiêu tán hết số thức ăn cậu mang theo. Những chặng tiếp theo có vẻ khó khăn hơn khi nhiều đoạn đường dài, nắng nóng cộng với việc khan hiếm nước. Tuy nhiên không vì thế mà tôi bỏ đoàn của mình, dù mệt và đau nhưng tôi vẫn cố gắng động viên hai cô nàng trong đội, kéo họ đi những đoạn đường dốc. Tôi muốn cho họ thấy rằng không có gì là không thể làm được, không đi nhanh thì đi thỏng thả, và quyết không để họ dễ dàng bỏ cuộc như vậy. Chúng tôi đã cùng hỗ trợ nhau trên chặng đường dài như vậy. Trong chuyến đi này tôi chứng kiến một cảnh tượng rất cảm động là một cô gái, có lẽ là đoàn Chu Sê một lúc vác hai ba lô giúp cô bạn cùng đội nhanh chân leo dốc. Mấy đứa chúng tôi há hốc mồm khi không phải là một anh chàng nào đó mà là một cô gái nhỏ con. Cô gái vừa cùng anh bạn cũng hai ba lô nữa dìu cô bạn đang kiệt sức. Quả thực đến lúc gặp hoạn nạn mới biết ai là bạn. Tôi nghĩ rằng sau đợt này cô bạn được giúp đỡ ấy sẽ không quên được sự giúp đỡ của bạn mình.

Qua bao chặng nghỉ chân, đoạn đường dốc và dài, uống vội những liều giảm đau khi cơn đau chợt đến, cuối cùng tôi cũng đến đích lúc giữa trưa. Tuy mệt nhưng nhìn những nụ cười rạng ngời trên khuôn các đồng đội làm tôi thật hạnh phúc. Không kịp nghỉ ngơi, tôi xắn tay áo vào phụ anh Hùng nấu cơm cho cả đội, và bữa trưa đầu tiên trên đỉnh Bạch Mã hùng vĩ đó, thật tuyệt. Buổi chiều hôm đó, chúng tôi lên nhà bát giác trên đỉnh để chụp ảnh. Chao ôi, cảnh đẹp và hùng vĩ đến mê hồn, chỉ tiếc là chúng tôi không có cơ hội ngắm hoàng hôn trên đỉnh Bạch Mã sơn này. Tranh thủ những tấm hình cùng đồng đội, tôi lơ đãng thả hồn vào núi rừng bạt ngàn kia. Một nỗi nhớ quê hương chợt dâng lên trong lòng, cảm giác cô độc, trống trải nhưng yên bình nơi núi rừng này thật quen thuộc đối với tôi. Tối hôm đó, chúng tôi được tham gia buổi giao lưu lửa trại. Tôi lại lăng xăng canh chừng nồi chè và cứ sợ nó sẽ không chín. Tối hôm ấy, đội chúng tôi ngồi sau thầy, được nghe thầy hát mà đứa nào cũng nhìn nhau khâm phục giọng hát phiêu bồng ấy. Xong đâu đó, tôi cùng chị Nhàn chạy xuống đợi làm vệ sinh cá nhân, đến lúc lên thì đã thấy thầy với vẻ mặt nghiêm nghị nói “Các chị không nghe tiếng còi phải không, còn 5 phút nữa tôi thổi còi đi ngủ”. Nhanh hết mức có thể tôi cùng chị chạy nhanh vào chỗ của mình và nằm im thin thít, lúc ấy tôi vẫn còn đang xỏ một bên đôi tất của mình. Tôi vẫn nhớ cái âm thanh xột xoạt vô cùng khẩn trương của các nàng khi chuẩn bị chăn màn để ngủ. Thầy tít còi, cả căn phòng im phăng phắt, bỗng có tiếng xột xoạt bên kia, thầy bật đèn lên và chỉ mặt, hỏi tên hai cô gái không nghe mệnh lệnh vừa rồi. Chúng tôi cũng run bắn lên nhưng chẳng dám nhúc nhích cho dù chỗ ngủ bị chật.

Sáng hôm sau, mọi người khẩn trương dậy nấu nước ăn sáng. Chúng tôi nhanh chân chuẩn bị xong đâu đó rồi thảnh thơi ngồi đợi nước sôi, trong khi các đội khác hì hục làm lửa. Leo lên nhà bát giác vào buổi sáng, hít thật sâu cái bầu không khí trong lành hiếm có này, tôi như muốn hít lấy hít để cái tinh túy của núi rừng này. Rồi sự kiện mà tôi mong đợi cũng đã đến, chúng tôi xếp hàng đợi phong đai. Có lẽ tôi đứng đúng vị trí thuận lợi nên tôi trở thành người đầu tiên được thầy phong đai. Hạnh phúc dâng ngập tràn trong lòng, tôi thầm tự hào về bản thân mình vì cuối cùng tôi cũng đã vượt qua được thử thách đầu tiên mà tưởng chừng như đã không thể. Cuối buổi, thầy dặn dò chúng tôi rất nhiều điều, làm sao sống ở đời cho xứng với chiếc đai đen danh dự của con nhà võ mà mình đang mang. Tôi như nuốt từng lời thầy dặn và nguyện cố gắng thực hiện theo đúng như vậy.

Khi chúng tôi chuẩn bị hành quân xuống điểm tiếp theo là thác Đỗ Quyên, thầy không quên dặn dò về sự kỉ luật tuyệt đối tuân hành mệnh lệnh để tránh nguy hiểm cho chuyến đi. Thầy cũng không quên dặn chúng tôi dọn dẹp lại sạch sẽ chỗ ở, lượm một cọng rác như nhặt những mẫu rác trong tâm hồn, làm cho chúng sạch hơn, thanh thản hơn. Chúng tôi tới nơi thì đã trưa, tôi cùng anh bạn trong đội tranh thủ kiếm chỗ cho cả đội đóng trại. Trưa đó chúng tôi được thưởng thức món cơm sống của chị My. Cả đội đùa nhau rằng chị My quả là một tay giúp chống đói tốt bởi lẽ ăn cơm chị nấu xong phải đợi nó nở ra trong bụng nữa, lúc ấy có tới khuya cũng không thấy đói. Về chuyện tìm chỗ cắm trại thì việc đi sau của chúng tôi hóa ra lại có cái hay. Vì các đội đến trước và chọn chỗ bằng phẳng để cắm trại nên chúng tôi đành chọn một mỏn đá cao cạnh suối. Đến chiều, trời bỗng đổ cơn mưa rào, nước trên nguồn dần lên cao khiến các đội khác cuống cuồng dọn dẹp chỗ, kẻ đứng người ngồi, rồi những chiếc võng được mắc từ chiều bị ướt hết trừ đội chúng tôi và vài đội ở chỗ cao nữa. Trong lúc những đội khác khổ sở lo trại, đội chúng tôi xúm quanh lại, mặc áo mưa vào và hát. Lúc nào cũng vậy, anh Hùng luôn là người đầu têu. Anh nhảy vào tấm bạt che ba lô, quấn bạt quanh người và bắt bài hát cho chúng tôi. Chiều đó vui không thể tả, chúng tôi hát hò và chơi trò chơi trong khi mưa như trút nước ngoài trời. Vài vị khách nước ngoài trú trong trại của chúng tôi cảm thấy hứng thú quá đến độ nhảy theo bài hát, chụp ảnh chúng tôi tía lia. Khi cơn mưa bớt đi, chúng tôi mỗi người một tay dựng bạt chắn gió và sắp xếp chỗ ngủ. Với một bộ cánh che mưa tiện lợi nhất, anh Hùng nhanh tay đi ra đi vào lo bữa tối cho chúng tôi. Vì chị My kho thịt cho buổi tối mà quên mang vào lúc trời mưa đâm ra tối đó chúng tôi được ăn món canh thịt lỏng bỏng nước mưa. Tuy thế nhưng nhờ tài nấu ăn của anh Hùng, chúng tôi được một bữa cơm ngon lành và lần đầu tiên nồi cơm hết sạch. Tôi lúc nào cũng được anh giao việc nhen lửa và phụ bếp. Trong khi mọi người ngồi trong tấm bạt ấm thì tôi lại lụi hụi nhen lửa nấu cơm, nấu chè. Tôi vẫn không quên những nồi chè thơm nức mũi ấy khi tự tay nấu cho đồng đội ăn. Tối đó, chúng tôi xếp lại chỗ ngủ như xếp mấy con cá vào rỗ vậy. Vừa ấm vừa vui, chúng tôi đánh một giấc ngon lành đến sáng mai.

Sáng hôm sau, chúng tôi thay võ phục và xuống chân thác Đỗ Quyên để chụp ảnh. Để có được những tấm hình đẹp, thầy đã phải lăn xả đi trước và chụp với mọi tư thế sao cho chụp được những tấm hình đẹp nhất. Tôi nhận thấy vài người trong số võ sinh cứ càm ràm sao thầy chụp nhiều thế, rằng là mỏi chân quá, thế này thế nọ. Tôi quay sang, lắc đầu nhìn họ, không hiểu họ nghĩ cái gì khi nói những câu nói như vậy. Thầy đã lớn tuổi mà không quản ngại khó khăn nguy hiểm chụp lấy những bức hình đẹp để đời dành cho họ, vậy mà họ không biết cảm ơn rồi còn than vãn. Tôi thấy chuyến đi của mình như bị cắt bớt niềm vui đi vì những suy nghĩ ấy.

Xong suôi đâu đó, chúng tôi ăn bữa cơm cuối cùng nơi thác Đỗ Quyên. Tôi cố gắng tận hưởng cảm giác tuyệt vời nơi núi rừng này lần cuối để sau này có thể tự hào rằng mình đã từng đến đây. Trưa hôm đó, chúng tôi xuống núi với niềm tiếc nuối. Ba lô trên vai nhẹ đi nhưng trong lòng lại trĩu nặng một một nỗi nhớ nhung lạ thường. Đội chúng tôi chậm rãi đi xuống và ngắm nhìn xung quanh như để khắc ghi chút gì đó về Bạch Mã sơn hùng vĩ này. Xuống núi mà đầu cứ ngoái lại nhìn ngôi nhà bát giác trên đỉnh đó, mỉm cười tự hào xen lẫn sự tiếc nuối vấn vương, những kỉ niệm trong những ngày ngắn ngủi ấy. Đội chúng tôi về áp chót, không phải vì không đủ sức đi mà vì hỗ trợ đồng đội. Chúng tôi vừa đi vừa hô khẩu hiệu “thể chất, Nguyễn Huệ - đoàn kết, đoàn kết, đoàn kết. Đoàn kết là - sức mạnh” trong niềm hạnh phúc.

Trở về võ đường, chúng tôi được thầy dặn dò, nhận xét về chuyến đi, trong đó có những lời phát biểu cảm tưởng của thầy Túy, một trong ba vị khách mời của võ đường. Lúc ra về, anh bạn của tôi lén lau nước mắt, cậu bảo những lời cảm tưởng ấy xúc động quá, và cậu thực sự nhớ Bạch Mã.
Kết thúc chuyến đi với nhiều thử thách, niềm vui, nỗi buồn, tôi ngẫm lại thấy mình đã nổ lực thật nhiều, cố gắng thật nhiều và đánh đổi cũng thật nhiều, để biết rằng trong suốt thời gian qua mình đã làm được gì và còn thiếu sót ở đâu. Thật không hối hận khi tôi đã chọn đúng “người chồng”, “người” đã giúp tôi hiểu được bản thân mình, giúp tôi lạc quan mỗi khi vấp ngã, là người bạn giải toả lo âu thường nhật và giúp tôi sống có trách nhiệm hơn với bản thân và xã hội, với ba từ “xin vui lòng”, “xin cảm ơn” và “xin lỗi”. Điều quan trọng nhất là từ giờ tôi có thể tìm lối để sống sao cho không bị mờ nhạt mai sau. Cảm ơn Karate-Do và những người bạn, người thầy.



            


  Trước    In trang