Trang chủ : Tư liệu
Ngoảnh lại

      
Phan Thị Huyền Nghi
CLB Lâm Hoàng


Tôi đã từng viết xem võ như một người bạn trong một chủ đề tham luận của thầy. Thì đúng thế thật, và để kết bạn, luôn cần một chữ duyên. Cái duyên đưa tôi đến với võ cũng thật tình cờ, tình cờ biết được đứa em học võ, tình cờ tôi có hứng học võ, tình cờ tôi có thời gian để học võ, tình cờ và tình cờ... Thế là tôi đi tập. Từ nhỏ ba tôi đã bảo tôi đi tập võ rồi, ba có người bạn dạy võ và bảo tôi theo chú ấy, là một loại võ cổ truyền nào đó. Hồi ấy tôi nghe cũng thích lắm, nhưng cài bản tính nhút nhát của cô nhóc bé bỏng khiến tôi chẳng có duyên đến với môn võ đó. Mà nếu có cái duyên thuở ấy thì đã chẳng có tôi của ngày hôm nay, kết thân với Karate-Do. Đó là một ngày hè trời xanh lam, tôi vừa nghỉ hè sau một năm làm cô sinh viên đại học. Học đại học đối với tôi không khác nhiều so với hồi cấp ba mấy, bởi tôi vẫn ở nhà, vẫn trong vòng tay ba mẹ chứ không như nhiều bạn phải xa gia đình, ở trọ và phải sống tự lập. Tuy vậy cái cảm giác học đại học vẫn không hề giống với những cấp học trước đó, rồi còn nào là năm tuần học quân sự xa nhà nữa. Sau một năm, tôi thấy mình cần trưởng thành hơn, mạnh mẽ hơn, có sức khỏe, và cần có rất nhiều kỹ năng nữa. Võ là một sự lựa chọn của tôi, và cái duyên với võ đưa tôi đến với đại gia đình Nghĩa Dũng Karate-Do, nơi giàu đức nhân ái, lòng trung thành, trọng danh dự, tinh thần trách nhiệm, công minh chính trực, bao dung cao thượng, và cả sức mạnh, niềm tin, khí tiết. Đó là những gì mà tôi biết được về phân đường này, theo cái tên Nghĩa Dũng của nó, trước khi là một phần trong đó, và đó cũng chính là những mục tiêu phấn đấu trong suốt chặng đường tập luyện của tôi.

Ngày đầu tiên làm quen với võ, tôi đến sân mà lòng hồi hộp lắm, nhìn mấy bạn mặc những bộ võ phục trắng, thắt đai trắng, đai xanh, đai nâu, và những anh huấn luyện viên đai đen, nhìn thật thích. Vốn dĩ tôi thích màu trắng mà, đó cũng là một trong những lí do tôi thích Karate. Ngày đầu tiên ấy, ngày đầu tiên tôi đi tập, chẳng có “vừa đi vừa khóc”, mà chỉ có vừa đi vừa hồi hộp, dù cho có lớn đến bao nhiêu thì cái đầu tiên vẫn làm cho con người ta có tâm trạng đó, hồi hộp và mong chờ. Lên sân, thấy tôi là người mới liền có người đến hỏi, em muốn xin vào tập hả, một cái nhẹ gật đầu, và thế là từ nay tôi đã là môn sinh của Karate rồi. Nhìn xung quanh toàn là người lạ, toàn một màu trắng, chỉ có mình tôi là khác đi, rồi từng tụm ba bảy người thân thiết, tôi thấy lạc lõng lắm, à, thấy được người quen rồi, là một người bạn học của chị tôi, tôi biết anh tập võ cũng lâu lắm rồi, giờ đã là huấn luyện viên Karate, tôi chỉ không biết là anh cũng huấn luyện ở sân Lâm Hoằng. Một cái cười nhẹ, tôi biết là tôi đã có bạn đồng môn, rồi sau này là nhiều, rất nhiều người.

Bắt đầu là những động tác chào tập, chào lúc vào tập, chào lúc ra về, và cả những cái gật đầu chào nhau, đó là không chỉ là thể hiện của phép lịch sự, mà còn là sự kính trọng, và cả lòng biết ơn, “Karate bắt đầu bằng lễ, kết thúc cũng bằng lễ”, rồi sau đó là tập những động tác cơ bản - tôi thấy rất giống với những bài thể dục ở trường - mà đến sau này tôi mới cảm nhận được là nó khác nhau ở điểm nào. Một tiếng rưỡi sau đó là chào về, ngày tập đầu tiên, một vài lời thăm hỏi làm quen và một vài giọt mồ hôi đổ trên sân. Tôi đã tự nhủ, mình sẽ cố gắng kết bạn với võ, cho đến khi thân. Đó là lời tự nhủ, và cũng là tự hứa với chính bản thân mình. Cho đến bây giờ, thì tôi đã làm được, sau cái khoảnh khắc mà tôi được chính tay Thầy thắt lên chiếc đai đen. Đó là cả một chặng đường dài, và không phải lúc nào cũng luôn là đường thẳng, tôi tự hào vì tôi đã vượt qua. 

Đến ngày thứ hai đi tập tôi đã được mặc võ phục, bộ võ phục trắng tinh còn vương mùi mới, và lớ ngớ không biết thắt đai thế nào cho đúng. Thế là, "người thầy", người anh dẫn dắt tôi đầu tiên - anh Thái - đã giúp tôi thắt đai và chỉ dẫn tôi cách thắt sao cho đúng. Đó là ấn tượng đầu tiên của tôi về anh Thái - người anh lớn của sân Lâm Hoằng. Sau này đi tập, tôi có cơ hội tiếp xúc nhiều hơn với anh, và cả những huấn luyện viên khác trên sân nữa, ai cũng vui vẻ và giúp đỡ mọi người nhiệt tình, không khí trong sân lúc nào cũng ấm áp. Có những ngày lễ, những dịp tết, cả sân lại lên kế hoạch đi chơi, và nhờ những hoạt động bên lề như vậy, tình anh em lại càng thêm gắn kết như gia đình thứ hai của mỗi người vậy.

Huấn luyện viên trên sân tôi rất nhiều, anh Thái, anh Lành, anh Lam, "anh" Hoàng, sau này lại có thời gian anh Thái bận chẳng lên sân được, lại có rất nhiều huấn luyện viên đến thay, anh Thành, rồi thầy Minh - mọi người gọi thân mật là anh Bi, rồi anh Cường, rồi thì anh Đa. Lại có những huấn luyện viên về sân chỉ trong một thời gian rất ngắn, có lẽ chỉ đủ để nhớ vài gương mặt trên sân, như anh Trà Đình Anh gì đấy - không biết tôi có nhớ nhầm tên hay không, rồi chị Trân - chị người nhỏ nhắn xinh xắn hay cười nhưng cũng rất nghiêm. Rồi lại có những huấn luyện viên từ lâu rất lâu nhưng chẳng theo sân đến cùng, như nhóc Long, nó từng huấn luyện cho tôi những ngày tôi còn mang đai trắng, nhỏ hơn tôi đến 3 tuổi. Năm nó học 12, rồi thi đại học nên chẳng thể đồng hành cùng sân được, và giờ lên đại học rồi hình như nó cũng rất bận nên chẳng quay lại huấn luyện nữa. Hồi tôi có gặp lại nó một lần ở bệnh viện, nó hỏi tôi còn tập không, tôi bảo còn, nó hỏi thế chớ bao giờ lên đai đen, tôi bảo cũng sắp đến rồi, khoảng tháng 6, lúc đó cũng tầm tháng 4 gì đấy, tôi thấy vui, vì gặp người quen, vì mình có thể nói rằng mình vẫn là môn sinh Karate. Rồi thì chị Trâm, anh Thiện, anh Đô, anh Ngọc, rất nhiều người vì lí do riêng mà chẳng theo sân thường xuyên, nhưng mà mọi người trên sân vẫn luôn nhớ đến những người anh, người chị từng dẫn dắt ấy.

Thuở còn mang đai trắng, lớp tôi đông lắm, đủ mọi lứa tuổi, có đứa nhóc nhỏ chỉ lớp 3 lớp 4, rồi những nhóc lớn tuổi hơn, cấp hai, cấp ba, tôi là sinh viên - thuộc dạng “có tuổi” của sân rồi. Những buổi tập thuở ấy nghĩ lại mới thấy nhẹ nhàng, nhưng hồi đó cũng vất vả với tôi lắm. Trước đó, tôi chẳng biết đổ mồ hôi là gì, bởi vì tôi chẳng bao giờ đổ mồ hôi, có chăng thì rất ít. Từ khi đi tập, tôi đổ mồ hôi nhiều lắm, có khi thấm ướt hết cả áo, sau đó tôi lại thấy người khỏe ra rất nhiều. Bắt đầu tập là những đòn đấm đá, rồi những bài quyền đầu tiên. Tôi nhớ mãi bài quyền đầu tiên mà tôi được tập - bài Tewaza I. Những điều đầu tiên luôn làm cho người ta nhớ lâu nhất mà. Rồi sau đó là những bài quyền khác, 2 bài Tewaza tiếp theo và những bài Heian. Sau khi tập được 6 tháng, cũng tập đủ 6 bài quyền đầu tiên, thi xong 4 vạch xanh, chúng tôi lên nhà thầy thi đai xanh. Chẳng phải lần đầu tiên gặp thầy, nhưng mà lần đầu tiên đến võ đường để thi, tôi run lắm, sau đó được nghe giọng nói ấm áp của thầy, con tim tôi yên bình trở lại, tôi cảm thấy mình thi cũng tạm ổn. Đến khi biết kết quả tôi thật bất ngờ không nghĩ là mình được thủ khoa ở sân mình, cùng với nhóc Lương. Vì đợt chúng tôi thi sắp nghỉ Tết nên phần thưởng cho thủ khoa các sân là được đi tất niên tại võ đường cùng với các anh chị đai đen. Dù còn lạ lẫm nhưng tôi vui lắm, được nghe thầy kể vài mẫu chuyện, cùng mấy anh chị đai đen và một số bạn từ các sân khác sẻ chia những chiếc kẹo, vài mẫu bánh, chúc nhau những lời an lành, cùng hát những bài tập thể, những kỉ niệm đó thật khó phai.

Sau đó, tôi được mang đai xanh, tôi thấy mình “lớn” thêm tí nữa, thân với võ thêm tí nữa, bắt đầu tập thêm nội dung mới là thi đấu. Những ngày tập đấu, về nhà, người tôi cứ đau mỏi nhức toàn thân vậy, chân thì bong hết lớp này đến lớp khác, nhưng dần dần rồi cũng quen, tôi thấy sức chịu đựng của mình ngày một cao. Vừa tập đấu, vừa tập quyền, trời dần dần lạnh, chuyển qua mùa đông. Trời lạnh thì tập đấu khỏe hơn nhiều, chẳng lo trời nắng nóng, cũng chẳng lo bong chân, nhưng số lượng môn sinh trên sân lại giảm nhiều, chắc tại trời lạnh quá, lại mưa nhiều nữa nên nhiều bạn chẳng vượt qua được thời tiết. Rồi cũng đến ngày chúng tôi được thi lên đai nâu, lại lần nữa được lên võ đường để gặp “người cha già giọng ấm áp” ấy. Lần thi này còn thêm nội dung công phá nữa, tôi rất lo lắng vì tay mình chẳng mạnh để tôi có thể tự tin chém gạch. Thế rồi tôi cũng làm được, tất nhiên thì qua được là tôi đã cảm thấy rất vui rồi, công phá là điểm yếu của tôi mà.

Mang đai nâu, lịch học của tôi ở trường bắt đầu dày đặc, thực tập lâm sàng nhiều hơn, không phải chỉ là chỉ Nội khoa như kì vừa qua, mà kì này tôi thực tập cả Nội và Ngoại, sau đó còn đi thực tập cộng đồng nữa, sau đó nữa là thi học kì kết thúc năm học thứ ba của tôi. Tuy vậy tôi vẫn cố gắng sắp xếp thời gian để vẫn đi tập đều đặn. Rồi cũng đến hè, tôi xin nghỉ 2 tuần để vào Sài Gòn thăm bà con, cũng là kì nghỉ hè của tôi. Sau đó, chúng tôi bắt đầu tập luyện cho thi đấu giải, lúc đó anh Bi đang huấn luyện cho sân tôi. Những buổi tập đấu mệt không thể nào mà tả, nhưng cũng vui không từ nào để nói, những cố gắng luyện tập của tất cả mọi người là những nụ cười mệt nhoài nhưng đầy niềm vui. Tôi cũng cố gắng luyện tập cùng mọi người cho dù tôi bước vào năm thứ tư đầy bận rộn, là năm bận rộn nhất trong sáu năm học theo lời của mấy anh chị đi trước. Nhưng cuối cùng thì tôi chẳng thể cùng mọi người tham gia giải đấu đó. Nhìn những thành công mà mọi người đạt được, những huy chương mà mỗi người được trao, tôi cũng thấy vui lây, và thấy tự hào về mọi người lắm.

Nói về giải đấu, tôi lại nhớ đến những lần đồng diễn, tôi tham gia nhiều lần đồng diễn, từ khi còn mang đai trắng cho đến khi sắp được mang đai đen, chỉ chưa có trải nghiệm mang đai đen đồng diễn thôi.

Ngày...tháng...năm...
Hôm ni tôi đi đồng diễn, là lần đồng diễn võ đầu tiên của một đứa đai trắng mới tập tành làm quen với võ. Tôi thấy vui, nhìn mọi người vỗ tay đón chào màn đồng diễn của chúng tôi như vậy, cảm giác rất lạ, không giống như một tiết mục văn nghệ múa tay múa chân, cũng không giống lên biễu diễn một ca khúc nào đấy, mà là chúng tôi đang đi quyền, và những đòn đấm đá, vừa là để mọi người xem, vừa là để giới thiệu Karate-Do đến với mọi người. Trải nghiệm ấy thật sự mới lạ và rất thú vị với tôi.

Ngày...tháng...năm...
Hôm nay tôi lại đi đồng diễn, lần thứ hai, và của một đứa đai xanh, cảm giác nó khang khác với lần đầu. Ngoài đòn đấm đá sao cho mạnh, đi quyền sao cho đúng, còn là cảm giác phải sao làm gương cho mấy em đai trắng, làm sao cho đội hình nó đẹp. Hì, cảm giác ấy làm tôi thấy mình lớn thêm chút nữa, đối với võ, tôi như kết thân thêm tẹo nữa.

Ngày...tháng...năm....
Hôm nay mình đi đồng diễn, cho lễ ra quân gì đấy, ôi đông người quá đi, ngoài Karate còn rất nhiều đối tượng khác, là mấy đơn vị bộ đội, công an, rồi mấy đơn vị ngành nghề gì nữa ấy. Đại nội Huế rộng lớn chứa biết bao nhiêu là người, dù chỉ là đồng diễn nhưng lại có cảm giác như đóng góp một phần sức mình vào việc gì to lớn lắm ấy, chắc tại xung quanh mình nhiều chiến sĩ công an quá. Một trải nghiệm rất thú vị.

Ngày...tháng...năm....
Hôm ni mình đi đồng diễn, và trên lưng là chiếc đai nâu dù còn vấn vương mùi mới, nhưng cảm giác nó chẳng còn giống với lúc mang đai xanh nữa. Lần đồng diễn này phải đứng đầu, phải làm sao cho chuẩn nữa cơ. Cũng run lắm, rồi cũng xong, thấy vui vì mình đã trải qua những trải nghiệm như vậy. Lần đồng diễn này tại trường của mình nữa chứ, gặp bao nhiêu người quen, vừa vui, vừa “ngại” gì đâu ấy.

Rồi cái duyên đồng diễn ấy lại đến một lần nữa, và đây là lần đồng diễn lớn nhất mình tham gia từ trước giờ. Đó là đồng diễn cho Đại hội thể dục thể thao của tỉnh 2014. Thầy bảo lần đồng diễn này là cơ hội để các em gặp gỡ đông đủ nhất các môn sinh Karate trên toàn tỉnh, và là cơ hội để các em thể hiện tinh thần võ của mình. Những buổi tập thật hào hứng, người đông như kiến. Thầy và mấy anh chị đai đen phải tất bật lắm mới có thể ổn định được đội hình, mà nhìn đội hình màu trắng rải đều trên sân cỏ như vậy đẹp lắm nhé. Những lúc chạy vào chạy ra, Thầy bảo nhìn như một đàn bướm tung cánh, đẹp cực kỳ. Rồi những buổi tập cũng qua đi, rồi hai buổi tổng duyệt nữa. Buổi đồng diễn chính thức cũng đến, cảm giác của một đứa sắp thi đen lại làm tôi có cảm giác là lạ. Cái cảm giác mình phải làm tốt, phải làm sao cho mình xứng đáng là một môn sinh Karate-Do sắp được mang đai đen - đai cuối cùng trong môn võ đòn đấm đá này. Vì vậy mà đồng diễn đòn đấm đá phải làm sao thể hiện cho được cái tinh thần Karate ấy. Đồng diễn xong, những nụ cười lại tràn ngập, vừa vui vừa tự hào, Thầy bảo tiết mục đồng diễn thành công lắm, ai cũng khen, và bảo, chỉ có Karate mới làm được vậy, gần cả ngàn võ sinh đứng kín cả sân vận động với đồng phục trắng tinh. Kí ức đó như khảm vào tâm mỗi người, của môn sinh Karate, và của những người từng xem qua tiết mục ấy. Về đến nhà, mẹ bảo tivi vừa chiếu bài đồng diễn, mẹ thấy con, mà còn thấy đến mấy lần nhé, còn em thì mẹ tìm hoài không thấy, nó bảo em đứng hàng cuối sao mà thấy cho được, thế mới biết đôi khi cao cũng không phải là một cái lợi - nói để tự an ủi chính mình thôi í mà. Còn nữa, tôi đi đồng diễn, còn lớp tôi được phân công để đi làm khán giả ngồi ở khán đài A, mấy đứa cũng bảo nó thấy tôi, giữa “rừng người” như vậy mà nó cũng tìm thấy tôi, công nhận là mắt nó cũng tinh thật.

Lại quay về việc tập luyện, sau giải đấu, chúng tôi trở về với nhịp điệu tập luyện bình thường, vừa tập quyền, thỉnh thoảng lại tập đấu. Sau đó một thời gian, tôi bị sốt xuất huyết, tuy không phải nằm viện nhưng sức khỏe không đảm bảo cho việc đi tập, rồi ở trường lại có lịch thi, tôi đành phải xin nghỉ tập, đợt đó tôi nghỉ đến gần hai tháng. Trong suốt hai tháng đó, tôi nhớ người bạn võ lắm, nhớ đến quằn quại. Tôi luôn tự nhủ, mình chỉ là tạm thời chia tay với võ ít lâu thôi mà, rồi sẽ sớm gắn kết lại thôi, nhưng xung quanh tôi vẫn có rất nhiều việc khiến tôi có suy nghĩ liệu tôi có thể tiếp tục làm bạn với võ hay không. Sau đó thì tôi kiên quyết đi tập lại, dù cho khó khăn thì tôi vẫn muốn vượt qua, tôi muốn gắn kết với người bạn võ này. Chẳng phải “Karate giống như nước nóng, nếu ngừng hâm nóng thì sẽ nguội lạnh.”, tôi phải tiếp tục hâm nóng thôi. Thời gian tập tiếp theo đó, thật sự rất bận rộn, lịch học ở trường, rồi học thêm, rồi thực tập, đến sân tập là những bài quyền mới, thỉnh thoảng là tập đấu. Sau đó nữa, anh Đa bảo chúng tôi luyện tập thêm buổi sáng, năm giờ sáng đến sân Hai Bà Trưng để tập, mỗi tuần ba buổi. Tôi quyết tâm lắm, cố gắng lắm mới có thể thay đổi lại nhịp sinh học để tập được vào giờ đó, vì trước giờ tôi luôn ngủ muộn và dậy muộn mà.

Những ngày luyện tập để thi đai đen là những ngày bận rộn đến quay như chong chóng, sáng đi tập, về nhà qua loa bữa sáng lại vác ba lô lên bệnh viện, chiều đi học, tối đi tập, có ngày lại đi trực. Những ngày đó, hồi tưởng thôi cũng thấy quay cuồng. Có ngày đi đến 5 vòng xe, tối 10 giờ về đến nhà chỉ muốn lăn đùng ra ngủ, đành xin lỗi sách vở, chị xin hẹn em vào ngày mai vậy. Thế nhưng, mình luôn tự động viên mình, cố lên nào cô bé, rồi sẽ được, mình làm được mà, chỉ cần cố gắng. Thì đúng là mình luôn cố gắng mà, gắng dậy sớm để đi tập, mặc dầu có khi chỉ chợp mắt lúc 2 giờ và 4 giờ đã phải thức dậy để đi tập. Nhưng mà, nhờ anh Đa tận tình chỉ tập, những buổi tập tuy rất mệt nhưng luôn tràn ngập tiếng cười, và mình thấy mỗi ngày mình lại tiến bộ hơn một chút, đủ để mình không còn quá tự ti là mình chẳng thể nào vượt qua được kì thi đen cả. Những buổi tập sáng sớm đó, rất nhiều bạn đến từ các sân khác nhau, tập để thi đen, rồi cả những anh chị tập để thi nhị đẳng nữa, chẳng phân biệt tuổi tác hay cấp bậc, chúng tôi lại cười đùa và cũng tập luyện, để thi, và còn để rèn luyện cho chuyến đi Bạch Mã hai ngày ba đêm mà theo lời anh Đa nói - không lo tập thì chỉ có nước lăn mà đi thôi. Những vòng chạy cuối mỗi buổi tập, những lời động viên nhau cùng cố gắng - chạy đi, mau lên, gắng lên nào của những người quen lẫn lạ. Thế mới biết, Karate đâu đâu cũng là tình thân ái. Rồi có những hôm anh Đa bảo chạy từ trường Hai Bà Trưng, vòng qua cầu Dã Viên, rồi quay trở lại trường, chặng đường ấy, lúc mới chạy sao mà thấy xa, chạy hoài không đến đích, nhưng đi Bạch Mã về rồi mới thấy, chặng đường ấy chẳng là bao so với con đường chinh phục Bạch Mã, nhưng nhờ những nổ lực nhỏ ấy, từ những chặng đường ngày một tăng lên chút ít đó của anh Đa mà chúng tôi đã chinh phục Bạch Mã trở về, còn hân hoan trong niềm vui chiến thắng, chiến thắng chính bản thân mình, và hơn nữa là tình đồng đội keo sơn gắn kết.

Rồi cũng đến ngày thi đai đen, tôi phải nghỉ một buổi học để đi thi, tôi tin tưởng vào những cố gắng của ḿnh, tin tưởng vào công sức của mình bỏ ra sẽ được bù lại, tôi tin là mình sẽ làm được. Tuy vậy tôi vẫn hồi hộp và lo lắng lắm, lo cho cả phần công phá nữa. Cuối cùng thì tôi cũng làm được. Thi xong tôi nhắn tin ngay cho chị, bảo em làm được rồi, tôi thấy vui lắm.

Ngày…tháng…năm…
Nói về kì thi đen, không biết nói sao chớ tay trái đang băng bó, còn tay phải sưng phù, bầm tím nữa, nhưng còn cái may là vẫn cầm bút được, và đang viết ra những dòng hồi tưởng này. Mới hồi sáng, mấy chị em ở sân Lâm Hoằng chúng tôi rủ nhau đến võ đường, vào sân, chờ thầy, hồi hộp, lo lắng, tim đập chân run, rồi chào thầy, rồi chụp ảnh. Mỗi lần chụp ảnh, thế nào cũng bị thầy la, nhưng rồi sau đó thầy lại nói vài ba câu khiến chúng tôi bật cười để có những bức ảnh đẹp mà theo như thầy nói là để hai, ba chục năm sau khoe với con, với cháu. Xong rồi, đến giờ bắt đầu thi, sau khi nghe đọc danh sách, biết là sân mình thi cuối, nên tôi chỉ biết ngồi lẳng lặng chờ đợi, tập hít thở sâu, gắng bình tĩnh theo lời thầy chỉ, xem mấy bạn thi trước. Đến lượt mình, lại hít thở sâu và cứ thế đi lên thi. Tôi đã tập ôn quyền rất nhiều lần trước đó nhưng vẫn rất sợ là mình sẽ đi nhầm, thế rồi thì cũng thi quyền xong. Xong quyền, lại đến phần công phá, chém gạch xong thì tay tôi cũng suýt bị như gạch, đau quá! Nghỉ ngơi hồi lâu, chúng tôi đến với nội dung thi đấu, tay đau nên tôi đấu không tốt lắm, nhưng không sao, Thầy bảo,  cốt lõi chính là ở tinh thần thi đấu cơ mà. Kì thi đen khép lại với lời dặn dò của Thầy. Luôn luôn như thế, sau mỗi kì thi, thầy sẽ dạy cho chúng tôi những bài học, chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu và lần này thầy kể vài mẫu chuyện nhỏ về cách ứng xử. Sau đó, thầy phổ biến về đợt đi Bạch Mã, sân tôi đông nhất đáng lẽ phải chia ra cho dễ quản lí nhưng vì huấn luyện viên là anh Đa “kì cựu” nên thầy cho phép chúng tôi là một đội. Thế là chúng tôi sẽ cùng đồng hành trên chặng đường chinh phục Bạch Mã huyền thoại đó, chỉ trừ một nhóc phải thi vào lớp 10 không thể tham gia được, còn hai sân Bà Triệu - Lâm Hoằng chúng tôi đều đông đủ. Thật vui! Mặc dù trong thời gian một tuần tới đây tôi thật sự rất bận rộn - thi lí thuyết, thi thực hành Lâm sàng, sau chuyến đi Bạch Mã 3 ngày 2 đêm, chờ đợi tôi là kì thi học kì VIII kéo dài trong 3 tuần nữa. Nhưng tôi vẫn quyết tâm tham gia hành trình chinh phục Bạch Mã, bởi lẽ tôi muốn được Thầy phong đai trên đỉnh núi huyền thoại - nơi có lượng mưa nhiều nhất Thế giới và số lượng rắn nhiều nhất Việt Nam. Tôi muốn cảm nhận trọn vẹn cái cảm xúc ấy, muốn tự mình trãi qua những điều đã được bao thế hệ đai đen nhắc đến.

Trở về sau chuyến đi, trong tôi lâng lâng những cảm xúc, và tôi biết mình đã có một quyết định đúng đắn, người ta nói,  tuổi trẻ là để trải nghiệm và trưởng thành, để cứ đi đi rồi sẽ đến mặc dù ta chẳng biết đâu là đích, để  ta kiếm tìm và nỗ lực cho ước mơ của mình. Bận rộn thật đấy, mệt mõi cũng có và cả những giây phút thèm được ngủ đến quay cuồng. Và cũng chính vì thế, tôi lại quý hơn những thành công mà mình đạt được, nó không phải là cái đai đen tôi mang, hay điểm 9 lâm sàng mà chính là sự trưởng thành của chính tôi, là những nỗ lực được đền đáp. Có lẽ trong sân, thể lực của tôi là yếu nhất, vì vậy tôi vẫn luôn thôi thúc bản thân tập luyện, có những lúc trực đêm về muộn, sáng ra tôi vẫn cố gắng đến sân Hai Bà Trưng tập luyện cùng các đồng đội, có vậy mới có tôi của ngày hôm nay, là một thành viên của “Đội mạnh” Bạch Mã 2014.

Chuyến đi Bạch Mã ba ngày hai đêm đó, nó là thử thách, nhưng cũng là cơ hội, nó vừa để luyện rèn, không chỉ về thể chất, mà còn về tinh thần, tình đồng đội, tình thân ái, và cả những ứng xử trong các tình huống có thể xảy ra trong suốt chặng đường gian khó ấy. Tối ngày 27/6, chúng tôi có mặt tại nhà Thầy, đúng 7 giờ, balo đâu vào đấy, hành trang sẵn sàng cho chuyến đi vào sáng sớm mai. Thầy kiểm tra qua hành trang của một số bạn, rồi dặn dò một số điều cho chuyến hành trình tới. Sau đó thì chúng tôi được phân công chỗ ngủ, đội chúng tôi được qua nhà anh Đa để ngủ, đến lúc này thì tôi mới biết sau nhà thầy có một con hẻm dành cho một vài môn sinh tá túc, không rộng nhưng đủ thoải mái cho gần hai mươi người của đội chúng tôi. Cười đùa, kiểm tra lần nữa những hành trang mang theo, đến đúng 9 giờ thì tắt điện đi ngủ. Dù quạt có chạy vù vù, nhưng trong cái thời tiết nóng nực thế này mà phải ngủ sớm thế thì chắc chả một ai làm được, hơn nữa tôi luôn có thói quen ngủ muộn nên chẳng thể nào ngủ được, đành đếm cừu vậy, rồi sau đó tôi cũng ngủ lúc nào không hay, tôi phục mình thật. Sau đó, tầm 1 giờ thì tôi tỉnh giấc, thường ở nhà giờ này tôi mới ngủ, hôm nay lại là giờ thức dậy của tôi, nói là thức dậy chứ không phải ngủ dậy vì chúng tôi chẳng được phép dậy trước 3 giờ. Tôi nằm nghĩ, tưởng tượng về chuyến đi chỉ còn vài tiếng nữa là xuất phát, còn hai tiếng nhưng tôi biết mình chẳng thể nào ngủ tiếp nữa, lại chợt nghĩ đến bài thơ Không ngủ được của Bác: “Một canh… hai canh… lại ba canh. Trằn trọc băn khoăn,  giấc chẳng thành. Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt. Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”. Bác không ngủ được “vì lo nỗi nước nhà”, còn tôi thì vừa ngủ dậy với lòng còn ngổn ngang nhiều thứ, cả hồi hộp, và cả lo lắng nữa.

Rồi cũng đến giờ dậy, mọi người đồng loạt thức dậy, vội vàng vệ sinh qua loa rồi cùng nhau lên đường, một chặng đường dài đang chờ phía trước. Lên xe, nghe một vài bản nhạc, người thì chuyện trò, người thì tranh thủ chợp mắt thêm tí nữa. Tôi ngồi cạnh cửa sổ, nhìn ra màn đêm còn đang phủ bóng trên suốt chặng đường, chỉ có thấp thoáng vài ánh sáng le lói của một vài hộ gia đình dậy sớm, một vài ánh đèn từ những chiếc xe tải chạy xuyên màn đêm, còn lại là sự tĩnh lặng. Xe chúng tôi cũng đang xuyên qua màn đêm, băng qua những con đường còn đọng lớp sương mai, đưa chúng tôi đến miền đất hứa, đến với Bạch Mã huyền thoại đang chờ chúng tôi chinh phục.

Năm giờ sáng, xe dừng bánh tại chân núi Bạch Mã, cùng nhau ăn sáng, những chiếc bánh chưng, anh Tùng còn chia sẻ cho chúng tôi những lát phô mai con bò cười, mà trên chặng đường về chúng tôi còn chọc nhau, nhờ những lát “con bò cười” ấy mà chúng tôi cười suốt trong cả hành trình chinh phục Bạch Mã; chúng tôi cười, là vì những niềm vui, những nụ cười ấy lan tỏa cả núi rừng, và đọng lại mãi trong kí ức của mỗi chúng tôi. Ăn sáng xong, thầy phân chia đoàn quân trên chặng đường đi, chúng tôi - đội của anh Đa được phân công đi cuối cùng, nhờ vậy mà tôi có cơ hội ngắm nhìn cả đoàn quân cùng khởi hành lên núi. Một đoàn người dài nối đuôi nhau cùng tiến lên đỉnh Bạch Mã huyền thoại, nhìn thật thích. Chúng tôi đi cuối cùng, ngay sau đội của Gia Lai, nhưng rồi lại vượt qua từng tốp người, đến trạm nghỉ chân đầu tiên, đi được tầm 4 cây số, thì chúng tôi đã bắt kịp Thầy và hòa cùng đoàn quân tốp đầu tiến lên đỉnh. Nghỉ chân trạm đầu, chúng tôi còn khỏe lắm, chỉ cần tiếp chút nước là có thể đúng ngay dậy để tiếp tục cuộc hành trình. Ở vị trí này, tôi cũng đã thấy được đỉnh Bạnh Mã, tưởng chừng như đưa tay ra là có thể chạm lấy rồi ấy. Tôi đùa với Hoàng, sắp đến đỉnh rồi, sắp có thể đưa tay ra là chạm tay vào mây rồi, nhưng tôi biết chặng đường phía trước còn dài lắm. Tôi tự nhủ mình phải cố lên, bởi sức tôi còn yếu lắm, và tôi chẳng muốn vì mình mà ảnh hưởng đến cả đội đâu. Lại tiếp tục cuộc hành trình, trên từng cây số, càng đi càng thấm mệt, chúng tôi cùng động viên nhau, cùng hô khẩu hiệu “Chúng ta là...Đội mạnh”, chẳng biết xuất phát từ ai, rồi chúng tôi cùng hô khẩu hiệu đó trên suốt chặng đường đi, và cả suốt cuộc hành trình ba ngày hai đêm này nữa. Chẳng biết có phải do khẩu hiệu đó không, mà chúng tôi “mạnh” thật, lên đỉnh đầu tiên, đó chẳng phải là điều tự hào, mà chúng tôi tự hào vì chúng tôi luôn cùng nhau, cùng nhau vượt qua, cùng giúp đỡ nhau, cùng nhau chiến thắng trong cuộc chinh phục Bạch Mã này, và chiến thắng bản thân mỗi người.

Chặng đường đi lên ấy, bao khó khăn phía trước mà chỉ khi vượt qua ta mới tự thấy khâm phục chính mình. Những cây số cuối, chân cứ bước những bước như lập trình sẵn, người như mất cảm giác vậy, chỉ đến khi thả chiếc ba lô trên vai xuống mới thấy đau mỏi vai thế nào, nhức chân ra sao, lại cùng nhau uống những ngụm nước suối mát lành giờ như trở thành dòng suối cho hoang mạc khô cạn vậy, rồi cùng nhau sẻ chia những lát chanh đường thơm ngon, những lát chanh muối mềm dịu, những khoảnh khắc đó thật thắm tình đồng đội. Sau khi nghỉ chân tại nhà nghỉ Phong Lan, chúng tôi lại đi tiếp những bước chân cuối cùng trên chặng đường chinh phục Bạch Mã, vừa đi vừa hát vang vọng cả núi rừng. Đây rồi, tôi thấy đỉnh Bạch Mã ngay trước mắt mình rồi, chỉ cần ngước nhẹ là thấy trời xanh mây trắng ngay trên đỉnh đầu, đưa tầm mắt ra xa là thấy cả khoảng trời không trước mắt, thấy nào non sông núi biếc, đẹp đến không thể nào mà tả được, chỉ ngẩn ngơ ngắm nhìn.

Chúng tôi dừng chân tại một nhà nghỉ cổ xưa ở gần ngay dưới đỉnh Bạch Mã, cơm nước xong xuôi, nghỉ trưa, chúng tôi được gọi đi lên Hải Vọng Đài để chụp ảnh cùng cả đoàn. Theo như thầy cảm nhận được thì mai rất dễ có mưa nên mới có chuyến hành quân lên núi sớm hơn dự kiến này, nhờ vậy mà chúng tôi có những tấm ảnh đẹp, tại một chiều đầy mây trên đỉnh Bạch Mã. Đứng ở Hải Vọng Đài nhìn xuống như ôm trọn cả một bầu trời trong tay, tôi như cảm nhận được cái cảm giác đưa tay ra ra là chạm tay vào mây như tôi đã từng tưởng tưởng từ khi còn ở tận dưới chân núi. Cảm giác thật tuyệt! Hành quân xuống lại khu nghỉ chân, mỗi người chúng tôi lại người cầm, người vác, người kéo theo một cành củi khô để nấu cơm tối và còn để cho đêm lửa trại, mà theo như anh Thành nói thì đó là quà khi đi từ đỉnh núi xuống, và ai trong chúng tôi cũng có quà. Sau đó, chúng tôi lại bắt tay vào buổi cơm tối, cơm nước xong xuôi thì mọi người lại tụ tập chơi đùa, ngồi quân quần bên bếp lửa nồi chè và hát cho nhau nghe. Và cũng để sưởi ấm, càng về đêm thì Bạch Mã càng lạnh, tôi đã bắt đầu cảm nhận được cái lạnh mà bao anh chị đi trước đã nhắc đến, cái lạnh đặc sản của Bạch Mã về đêm. Sau đó là lửa trại, tất cả mọi người nối vòng tay lớn quay quanh một đốm lửa hồng, và quay quanh anh Hùng - người quản trò của đêm lửa trại đó. Tất cả chúng tôi quay quần bên nhau, cùng vang lên những ca khúc đoàn hội, những ca khúc về tình đồng đội, và cả những điệu dân ca ba miền. Thầy tập cho chúng tôi những ca khúc đó, rồi kể cho chúng tôi nghe một vài câu chuyện ấm tình đêm khuya, trời thì lạnh, nhưng lòng người thì ấm áp. Thầy còn hát cho chúng tôi nghe một ca khúc thầy vừa sáng tác trên chặng đường đi lên đỉnh. “Bạch Mã sơn, thân yêu ơi. Bạch Mã sơn, thân yêu ơi. Bạch Mã sơn, thân yêu ơi. Còn đâu những tháng ngày hạnh phúc ta sum vầy. Từ nay cách xa…”. Dù chỉ mới gặp nhau chưa đầy một ngày, nhưng như đã thân quen, và dẫu chưa xa mà đã thấy nhớ. “Bạch Mã sơn thân yêu ơi…”. Khép lại đêm lửa trại bằng ca khúc ấy, nó để lại dư ba cho mãi về sau. Sau đó, mỗi đội lại quây quần bên bếp lửa của mình để múc cho nhau những bát chè nóng hổi, những bát chè ấy như là phần nào trong câu chuyện dài của chuyến đi Bạch Mã, ngọt lịm và ấm áp.

Giờ ngủ đến, đúng 10 giờ tất cả phải ổn định chỗ ngủ, trật tự và yên lặng, những lúc trong giờ giới nghiêm thế này tôi mới cảm nhận được đúng là chúng tôi đang trong một cuộc hành quân, thầy là người chỉ huy - một vị chỉ huy nghiêm khắc nhưng lại rất hiền từ và đầy lòng bao dung.

Ngày đầu tiên trên đỉnh Bạch Mã, hôm ấy là ngày Gia đình Việt Nam, thế mà tôi chẳng ở nhà, chẳng thể ăn những bữa cơm cùng ba mẹ. Sáng nhắn tin cho ba, chỉ biết chúc cho nhà mình một ngày vui vẻ, dù chẳng có con ở bên, ba nhắn bảo ba mẹ chúc con có một chuyến đi vui vẻ, và nhớ giữ gìn sức khỏe, em lại nhắn, vui vẻ và an toàn, còn chị bảo tận hưởng và cố lên nào em gái. Dù không ở bên những dòng tin nhắn ấy đủ làm lòng tôi ấm áp, và bên cạnh tôi còn có một đại gia đình võ to to, cả một gia đình nho nhỏ mà tôi chưa nhắc đến nữa. Nói về gia đình võ to to thì đó là tất cả môn sinh Karate chúng tôi, cùng nhau mang một sắc áo, cùng tập luyện, cùng trải qua những gian khổ như nhau, để rồi lại cùng nhau chinh phục đỉnh Bạch Mã huyền thoại này, cùng giúp đỡ nhau trên suốt chặng đường và trao cho nhau những nụ cười ấm áp, dẫu còn đôi người xa lạ. Nói về gia đình nho nhỏ tôi lại thấy nhớ nhiều người, mà có khi chúng tôi đã cùng bên nhau trên suốt chặng đường gian khó này rồi.

Trên sân võ Lâm Hoằng, tôi có một gia đình nho nhỏ rất vui. Chúng tôi quen nhau từ thuở còn mới lớ ngớ vào sân. Gia đình nhỏ ấy cứ đầy lại vơi cũng như số lượng môn sinh trên sân võ vậy. Mỗi người đến và đi đều để lại ấn tượng và cũng vương lại nỗi buồn chia li trên ánh mắt của mỗi người trong gia đình còn lại. Gia đình nhỏ ấy hơi 'loạn' về giới tính. Trước tiên phải nói đến đứa con nhí nhố - nhóc Lương. Nhóc vui tính, hay cười đùa, nhờ có nhóc mà có những ngày tập trở nên vui vẻ hơn. "Ba" là Thanh Mập Mập kute, luôn tự xưng là "đẹp trai" nhất sân Lâm Hoằng, à không, là thứ hai sau anh Lành "thư sinh". Ba lăng nhăng có đến hai "người vợ" mà nhóc Lương một gọi là "mẹ", một gọi là "me me". Mẹ là chị hơn tôi một tuổi nhưng trông chững chạc hơn nhiều, tuy chị chỉ tập với chúng tôi thời gian ngắn nhưng mỗi lần nhắc đến chị, tất cả các thành viên của gia đình nhỏ đều nhớ đến. Meme là một nhóc thua tôi một tuổi - nhóc Tiến. Ba với me me thật sự là một cặp đôi hoàn hảo nếu như hoán đổi giới tính cho nhau. Còn tôi, thành viên thứ năm của cái gia đình nho nhỏ ấy, là dì của nhóc Lương, là chị của me me nó. Gia đình nhỏ ấy có thời gian rất đông đủ, rồi có thêm thành viên mới "ông cậu" - nhóc Cường và "đứa cháu" - nhóc Duy. Mỗi buổi tập, gia đình tề tựu như thế thật sự rất vui, cùng nhau tập luyện, cùng nhau chuyện trò. Nhưng rồi lần lượt từng thành viên rời bỏ gia đình nhỏ này, và cũng rời bỏ gia đình võ to to Lâm Hoằng. "Mẹ" rời sân tập vì bận công việc không thể sắp xếp thời gian được. Nhóc Duy nghỉ tập vì lí do gia đình. Nhóc có tên ở nhà là Nô en. Tôi từng đùa tên đó thì Nô en nhớ tặng quà cho chị nhá "ông già Nô en". Nó đồng ý rồi, nhưng mà Nô en còn chưa tới nó đã bỏ sân, bỏ gia đình nho nhỏ, bỏ gia đình to to, bỏ quên cả lời hứa tặng quà Nô en cho tôi. Nó đi tôi buồn lắm, lúc đó chúng tôi còn đang mang đai xanh. Rồi nhóc Cường -  "ông chú" khó tính nhưng hay cười cũng nghỉ tập, vì việc học, vì chuyển cấp, lúc đó chúng tôi mới lên đai nâu chưa bao lâu. Rồi nhóc Tiến - "me me" cũng rời sân, vì bận học. Anh Thái mấy lần gọi bảo cố gắng sắp xếp thời gian đi tập, nhưng nó bảo chịu thôi. Vậy thì đành chịu. Thế đấy, cái gia đình nho nhỏ ấy chỉ còn ba thành viên, người ba lăng nhăng, đứa con nhí nhố, và bà dì "luống tuổi" là tôi. Nhưng tôi luôn nhớ đến những thành viên đó, những khoảng thời gian chúng tôi đã cùng nhau trải qua, cái gia đình nho nhỏ luôn tràn đầy tiếng cười. Để rồi giờ đây, nằm nhớ về cũng là một nụ cười ấm áp, tôi nhớ mọi người, mà thầm nghĩ, dù cho không thể cùng nhau trên suốt cả chặng đường thì chúng tôi luôn nhớ về nhau, như thế là đủ rồi. “Còn tôi mong sao, bao ngày tôi đang sống, sẽ không bao giờ mờ nhạt mai sau”. Chìm vào giấc ngủ lạnh tay chân nhưng trái tim ấm áp, đêm ngủ đầu tiên trên đỉnh Bạch mã, yên bình.

Sáng, chúng tôi qua loa bữa sáng bằng những gói mì tôm, tiếp theo là buổi lễ phong đai trên nhà Bát giác - bởi lẽ vì trời mưa, đúng là thầy cảm giác rất chính xác, thầy cũng luôn tự hào về điều đó, thầy gọi đó là tầm nhìn, và chúng tôi luôn cố gắng rèn luyện để được như thầy, người thầy mà tôi kính mến, người dạy võ nhưng luôn chỉ dạy cho chúng tôi về cả đạo nghĩa. Chờ đợi, hồi hộp, chờ mong, tôi chắc hẳn ai trong chúng tôi đều vậy, cho dù có là mấy anh chị nhị đẳng, tam đẳng đi chăng nữa. Đến lượt mình, cái khoảnh khắc được chính thầy mang cho chiếc đai đen ấy, khắc sâu vào tâm khảm tôi, tôi còn tự nhủ, như một lời ước hẹn, lời ước hẹn với Karate-Do. Dù cho sau này có như thế nào trên chặng đường võ, thì cái khoảnh khắc đó, luôn là hành trang mang theo, là dấu ấn khó phai trong cuộc đời tôi.
 
Sau lễ phong đai, lại là hành trình mới - hành trình chinh phục thác Đỗ Quyên, chặng đường gian khó và đầy ắp những hiểm nguy. Trước khi khởi hành, thầy bảo mọi người dọn dẹp sạch sẽ tất cả như khi ta chưa hề đặt chân tới. Thầy bảo đó là dọn rác, theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng, dọn dẹp cho cuộc sống tươi đẹp và đừng gieo rắt nỗi buồn hay nỗi đau vào bất kì ai khác. Trên đường đi, tôi cũng thấy rất nhiều biển hiệu, từ chân núi Bạch Mã cho đến trên từng chặng đường đi: “Không lấy gì ngoài những bức ảnh đẹp. Không để lại gì ngoài những dấu chân”. Vâng, chúng tôi đã đi, đã lấy được rất nhiều bức ảnh đẹp kỉ niệm một thời tươi trẻ, để bao nhiêu năm sau nhìn lại; và trên những chặng đường in dấu những bước chân qua, bước chân của một thời tuổi trẻ và chinh phục.

Tấm ảnh dành cho 30 năm sau

Để đến được với thác Đỗ Quyên, chúng tôi phải vượt qua rất nhiều gian khó, “Trên con đường ta đi, lũ trào thác xối muỗi rừng vắt núi”. Nhưng mà, ôi thác Đỗ Quyên đó, “dang tay gọi tới”, “ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình”. Trong tâm thức tôi luôn có tiếng gọi mình tiến về phía trước, đến với thác Đỗ Quyên - cảnh đẹp hấp dẫn nhất của núi rừng Bạch Mã. Băng qua những con đường mòn xuyên rừng vượt núi, vượt qua những vách đá cheo leo phải bám lấy dây giữ, vượt qua ngũ hồ, những thác nước trong xanh, tôi đến với thác Đỗ Quyên xinh đẹp. Thả tầm mắt xuống dưới, rồi ra xa, ngẩn ngơ ngắm nhìn, cố thu vào tầm mắt, cảnh đẹp đó thật không lời nào diễn tả hết được, đó “nào phải là buổi tiệc bạn chỉ thưởng thức một lần, mà bất cứ lúc nào muốn, chỉ cần định thần, quán tưởng, là bạn có thể trở lại khu rừng xưa, dòng sông cũ, nhấm nháp chút hương vị của núi rộng sông dài…”, để mỗi lần nhớ về, tôi như đứng giữa núi rừng mênh mông, ngắm nhìn dòng thác, giang tay ôn lấy cả bầu trời rộng lớn. Đến bây giờ tôi mới hiểu vì sao thầy chọn núi rừng Bạch Mã để làm mốc đánh dấu cho những chặng đường của người học võ, nó không chỉ là thử thách chông gai, không chỉ là chặng đường chinh phục, mà nó còn là thiên nhiên hùng vĩ, là non thiêng, núi biếc, là cảnh đẹp ngỡ ngàng của con thác Đỗ Quyên. Thế mới biết, như lời thầy nói, chuyến đi Bạch Mã, không chỉ là thử thách trên từng chặng đường đầy gian khó, mà còn là cơ hội để hòa mình với thiên nhiên, để trải rộng lòng mình cùng núi rừng bao la.

Dừng chân trên đỉnh thác Đỗ Quyên, vọc tay xuống dòng suối mát lành, vốc những ngụm nước suối trong vắt để uống, những tưởng mình đang sống giữa chốn bồng lai tiên cảnh. Cơm trưa xong xuôi, chúng tôi lại cùng nhau tìm chỗ để mắc võng, cùng nhau khám phá những cảnh đẹp ở chốn tiên cảnh này. Thế nhưng, bỗng dưng trời đổ cơn mưa, to lắm, còn kéo dài lê thê, từ trưa, cho đến chiều, rồi cho mãi đến tối khuya mới chịu ngưng hẳn. Đội chúng tôi ở “vùng sâu vùng xa” nhất, may còn có một triền đá khá bằng phẳng đủ cho chúng tôi đứng bên nhau trong cái màn mưa mù mịt ấy. Võng mắc lên chưa kịp nằm đã ướt nhẹp, đến tối chúng tôi phải cùng nhau hong khô mới có thể ngủ được. Rồi mưa lớn làm nước dâng lên mãi, chỗ vừa mới trưa chúng tôi làm bếp nấu cơm giờ đã ngập chìm trong nước. Mọi người ai cũng tất bật, người hong võng, người lên rừng kiếm củi, có bạn lại lạnh co ro chẳng thể nhấc nổi đôi chân. Trời một lúc một tối, mọi người lại càng hối hả, lo cho bữa cơm tối, lo cho giấc ngủ đêm nay e giấc chẳng lành. Thác Đỗ Quyên lại chào đón chúng tôi bằng một màn mưa dài lê thê như thế. Nhưng chúng tôi nguyện trải qua tất cả, những kí ức như thế, khó mà có đến lần thứ hai. Tình đồng đội, tình đoàn kết, “cùng chia cho nhau bao hiểm nguy gian khổ, những khi mưa nguồn…”, những cái khoác vai ấm áp, những chiếc áo ấm chuyền tay, nghĩ lại thôi cũng thấy ấm lòng. Không biết những đội bạn ở trên kia có ổn không, phóng tầm mắt ra xa cũng chỉ thấy những bóng người thấp thoáng trong màn mưa dày đặt.

Đêm đến, trong màn mưa trời càng lạnh, mỗi người một võng mắc sẵn sàng, nhưng chúng tôi chưa muốn ngủ, cùng nhau ngồi bên bếp lửa, bắt một nồi chè, rồi cùng hát cho nhau nghe, mưa thì mặc trời mưa, chúng tôi miệng vẫn cười, và tim thì ấm áp. Rồi cũng đến giờ phải ngủ, những chiếc võng mắc san sát, trên đầu thỉnh thoảng còn nhỏ vài giọt mưa rừng, nằm nghe mưa rơi trên đỉnh đầu, tiếng gió thổi, xa xa là tiếng thác đổ, thi thoảng lại nghe tiếng chim rừng, tiếng côn trùng kêu vang vọng trong đêm khuya. Tất cả hòa thành một bức tranh, một bản hòa âm dẫu không có tiết tấu nhưng chẳng bao giờ có thể nào quên. Trời lạnh, còn mưa ướt, nên giấc ngủ chập chờn, tôi chẳng ngủ được, lại nằm hồi tưởng lại những gì mà mình đã trải qua trên chặng đường mang tên Bạch Mã này. Mới đó mà cũng sắp đến giờ chia xa, một chút buồn, một chút vấn vương. “Mây gió mây tan hợp. Thì có lo gì cái cuộc phân kỳ. Còn trời còn non sông. Còn người còn đoàn viên”.

Sáng sớm, khi mà bóng đêm vẫn chưa chịu nhường chỗ, tôi thức dậy, đến bên bếp lửa đêm qua vẫn còn đang rực cháy, ngồi cùng với một vài đồng đội, đợi bình minh lên, bình minh của ngày chia xa. Ngày cuối, nhịp điệu mọi việc cứ như chậm lại, níu kéo mọi khoảnh khắc, ăn sáng, rồi cùng nhau xuống chân thác Đỗ Quyên, cùng nhau lưu lại những bức ảnh, những kỉ niệm khó phai. Vì nghệ thuật mà thầy phải vất vả để chụp cho đội quân những tấm ảnh đẹp, khó có ai nghĩ đến được thầy đã 74 tuổi mà vẫn đồng hành cùng chúng tôi trên tất cả những chặng đường như vậy, đặc biệt là chặng đường quay trở lên từ chân thác Đỗ Quyên. Tôi thấy khâm phục thầy lắm.

Đến giờ về, quét mắt ngắm nhìn lại những con đường lạ nay thành quen, những cảnh vật còn chưa kịp quen hết. Tạm biệt Bạch Mã, tạm biệt thác Đỗ Quyên, tạm biệt ngũ hồ, tạm biệt những nhành cây bụi cỏ, những tiếng chim rừng, và cả những tiếng côn trùng, tạm biệt dòng suối mát lành, tôi chỉ xin một ít kỉ niệm để mang về, chỉ lưu lại đây những dấu chân, tạm biệt nhé, từ nay cách xa, và hẹn nhé, không biết đến bao giờ. Tôi lại lẩm nhẩm bài hát trước khi chia xa. “Bạch Mã sơn thân yêu ơi. Bạch Mã sơn thân yêu ơi. Bạch Mã sơn thân yêu ơi. Còn đâu những ngày hạnh phúc ta sum vầy. Từ nay cách xa… Còn đâu những ngày hạnh phúc ta sum vầy. Từ nay cách xa”.

Chặng đường về, đội chúng tôi lại là đội quân đi cuối, thế rồi chúng tôi cũng lại là đội chạm đích đầu tiên. Chúng tôi còn kịp chụp với thầy tấm ảnh, tấm ảnh của tình đồng đội gắn kết, tấm ảnh minh chứng cho tất cả những nổ lực của chúng tôi. Lúc chúng tôi vào đến quán nước, đồng hồ điểm đúng ba giờ, sớm hơn so với dự kiến nửa giờ, nụ cười rạng rỡ trao nhau, những ly nước xoa dịu cơn khát, chúng tôi lại cùng ngồi bên nhau hồi tưởng lại chặng đường qua, cùng đợi các bạn khác chạm đích.

Trên chặng đường về ấy, tôi có cơ hội cùng đồng hành với thầy một đoạn đường ngắn. Bước chân thầy dài lắm, lại nhanh nữa, đi ngay sau thầy mà chốc chốc tôi  phải chạy mới có thể bắt kịp thầy. Tôi thích ngắm dáng đi của thầy từ phía sau như thế, dáng đi của người thầy đã 74 tuổi nhưng còn trẻ và khỏe lắm. Nói về trẻ thì nhiều người ở độ tuổi của thầy cũng được vậy, còn nói về sức khỏe thì có mấy ai mà được; tôi vừa khâm phục và còn có cả tự hào, tự hào vì mình có một người thầy như thế, tôi cũng tự nhủ sẽ cố gắng để được phần nào như thầy, dù biết chặng đường ấy còn dài và nhiều gian khó lắm. Và tôi còn có cơ hội nói chuyện với thầy, chỉ một vài câu hỏi thăm ngắn ngủi, nhưng nghe được giọng nói ấm áp đó, tôi lại thấy vui chi lạ, cảm giác như được nói chuyện với người ông của mình vậy, ông tôi hơn thầy vài mùa xuân.

Viết về chặng đường võ ba năm của tôi thì không biết viết sao cho hết, bởi trong tôi tràn ngập kí ức, từ thuở ngày đầu tiên đi tập cho đến ngày thi đen, rồi thì chuyến đi Bạch Mã đầy ấp kỉ niệm nữa, chỉ chút ít chia sẻ những trải nhiệm của mình thôi. Tôi biết ơn, trước tiên là thầm cảm ơn chính bản thân mình đã cố gắng nổ lực để kết thân với võ đến cùng, cảm ơn gia đình đã luôn bên tôi và ủng hộ tôi trên chặng đường đồng hành cùng với võ. Con cảm ơn Thầy, người đem võ và đạo truyền đến khắp nơi nơi, để con biết được võ thuật là gì, và võ đạo ra sao, không chỉ là dạy võ, mà còn rất nhiều bài học quý giá con luôn khắc ghi. Em cảm ơn những anh chị đi trước đã dẫn dắt cho thế hệ đàn em sau này, cảm ơn anh Thái - người anh lớn đầu tiên dẫn dắt em, cảm ơn anh Lành, anh Lam, anh Thiện, giúp đỡ em trên những chặng đường qua, cảm ơn anh Đa với những bài huấn luyện hà khắc, nhưng nhờ vậy mà em trưởng thành lên rất nhiều. Cảm ơn gia đình nho nhỏ cùng đồng hành trên suốt chặng đường chúng ta cùng nhau vượt qua, cảm ơn tất cả những bạn đồng môn, những nụ cười ấm áp mà chúng ta từng trao. Để hôm nay, tôi có thể tự hào, tôi là một môn sinh Karate-Do.



            

 Luận văn thu hoạch

 
 1   2   3   4   5  > >>

  Trước    In trang